Tìm kiếm văn bản thông minh, đa chiều
Tra cứu văn bản pháp luật Việt Nam
Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội quy định về quyền và trách nhiệm của các cơ quan trong việc thực hiện quyền giám sát, bao gồm Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội. Luật cũng nêu rõ quy trình giám sát thông qua chất vấn, báo cáo công tác, xem xét văn bản quy phạm pháp luật, thành lập Uỷ ban lâm thời, bỏ phiếu tín nhiệm và các biện pháp bảo đảm hoạt động giám sát.
Luật này sửa đổi và bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, quy định về các từ ngữ, hình thức tái cấp vốn, nghiệp vụ thị trường mở, tạm ứng cho ngân sách nhà nước. Nó có hiệu lực từ ngày 1 tháng 8 năm 2003.
Luật Kế toán số 03/2003/QH11 quy định về nội dung công tác kế toán, tổ chức bộ máy kế toán, người làm kế toán và hoạt động nghề nghiệp kế toán. Nó áp dụng cho nhiều đối tượng bao gồm cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, và người làm kế toán. Luật này quy định các quy định về chứng từ kế toán, báo cáo tài chính, kiểm tra kế toán, quản lý tài liệu kế toán, và tổ chức bộ máy kế toán.
Luật này sửa đổi và bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng, quy định các đối tượng không chịu thuế, mức thuế suất, thủ tục kê khai nộp thuế, xử lý vi phạm. Nó có hiệu lực từ 1/1/2004.
Luật này sửa đổi và bổ sung một số điều của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt, quy định về đối tượng chịu thuế, mức thuế suất, thủ tục nộp thuế và các biện pháp xử lý vi phạm. Các đối tượng chịu thuế bao gồm thuốc lá điếu, xì gà, rượu, bia, ô tô, xăng, điều hòa nhiệt độ công suất nhỏ, bài lá, vàng mã, hàng mã, vũ trường, mát-xa, karaoke, casino, trò chơi máy giắc-pót, giải trí có đặt cược, gôn và xổ số. Mức thuế suất được quy định cụ thể trong biểu thuế.
Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 09/2003/QH11 quy định về đối tượng nộp thuế, căn cứ tính thuế, mức thuế suất, thủ tục kê khai và nộp thuế, cũng như các ưu đãi thuế và xử phạt vi phạm. Luật này có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2004.
Luật Biên giới quốc gia số 06/2003/QH11 quy định về biên giới quốc gia, chế độ pháp lý, xây dựng, quản lý và bảo vệ biên giới. Luật này nhấn mạnh việc tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về biên giới quốc gia, xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị với các nước láng giềng.
Luật Ngân sách nhà nước quy định về lập, chấp hành, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán và quyết toán ngân sách nhà nước, đồng thời xác định quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong việc quản lý ngân sách. Luật này áp dụng cho Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Uỷ ban kinh tế và ngân sách của Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban khác của Quốc hội, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương, Uỷ ban nhân dân các cấp, các đơn vị dự toán ngân sách, tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ nộp và sử dụng ngân sách nhà nước. Điểm nổi bật là việc quản lý ngân sách được thực hiện thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh bạch.
Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Số hiệu: 02/2002/QH11) sửa đổi các quy định về việc ban hành, thẩm quyền, trình tự soạn thảo và thông qua văn bản quy phạm pháp luật. Văn bản này áp dụng cho Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên. Điểm nổi bật là việc bổ sung quy định về giám sát, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật để bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và thống nhất của hệ thống pháp luật.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động nhằm bảo vệ quyền lợi người lao động và người sử dụng lao động, quy định về hợp đồng lao động, kỷ luật lao động, bảo hiểm xã hội, xuất khẩu lao động, và quản lý nhà nước về lao động. Luật có hiệu lực từ 1/1/2003.