Tìm kiếm văn bản thông minh, đa chiều
Tra cứu văn bản pháp luật Việt Nam
Luật quy định về chế độ phục vụ của sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam được Quốc hội khóa VII thông qua vào ngày 30/12/1981, thay thế cho Luật cũ ban hành năm 1958. Luật này quy định chi tiết về nghĩa vụ và quyền lợi của sĩ quan tại ngũ và dự bị, bao gồm tuổi phục vụ, kỷ luật, khen thưởng, chế độ lương và nghỉ hưu.
Luật tổ chức Hội đồng Bộ trưởng được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VII kỳ họp thứ nhất thông qua vào ngày 4 tháng 7 năm 1981. Luật này quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và quan hệ công tác của Hội đồng Bộ trưởng, các bộ và ủy ban nhà nước.
Luật tổ chức Quốc hội năm 1981 quy định về cơ cấu và hoạt động của Quốc hội Việt Nam, bao gồm các điều khoản về quyền hạn, nhiệm vụ của Quốc hội, Hội đồng Nhà nước, đại biểu Quốc hội, cũng như quy trình bầu cử và bãi miễn đại biểu. Luật này thay thế cho Luật tổ chức Quốc hội năm 1960.
Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1981 quy định về tổ chức và hoạt động của các cấp tòa án trong hệ thống tư pháp Việt Nam, bao gồm Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương, cũng như Tòa án nhân dân huyện/quận/thị xã/thành phố thuộc tỉnh. Luật này quy định thẩm quyền xét xử của từng cấp tòa án, số lượng thẩm phán và hội thẩm nhân dân, cũng như việc bầu cử và bổ nhiệm các chức danh trong hệ thống tòa án.
Luật này sửa đổi và bổ sung Luật nghĩa vụ quân sự về chế độ tình nguyện cho hạ sĩ quan và binh sĩ, thời hạn phục vụ tại ngũ của các lực lượng vũ trang khác nhau cùng quy định gọi lại quân nhân đã xuất ngũ trong trường hợp khẩn cấp.
Luật này quy định về tổ chức chính quyền địa phương ở Việt Nam, bao gồm việc thành lập và hoạt động của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính ở các cấp từ xã đến khu tự trị. Luật cũng quy định về nhiệm kỳ, quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan này, cũng như cách thức bầu cử và thay đổi tổ chức trong trường hợp thay đổi cấp hoặc địa giới đơn vị hành chính.
Luật sửa đổi và bổ sung Luật Nghĩa vụ quân sự quy định về lứa tuổi tuyển vào quân đội, thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ trong các lực lượng vũ trang, chế độ huấn luyện dự bị hàng năm và việc gọi quân nhân dự bị ra phục vụ tại ngũ trong thời chiến. Luật áp dụng cho mọi công dân Việt Nam có nghĩa vụ quân sự.
Luật này quy định về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân nhằm đảm bảo việc tuân thủ pháp luật trong các lĩnh vực như điều tra, xét xử, giam giữ. Luật cũng quy định về nhân sự và biên chế của Viện kiểm sát.
Luật Sĩ quan năm 1956 của Việt Nam quy định về hệ thống cấp bậc, quyền lợi và nghĩa vụ của sĩ quan trong quân đội. Luật này bãi bỏ các sắc lệnh và luật lệ trước đó trái với nội dung mới.
Luật này quy định về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương ở Việt Nam, bao gồm các cấp từ trung ương đến xã. Luật nêu rõ nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách trong việc ra quyết định và thực hiện công tác. Nó cũng quy định về cơ cấu tổ chức của Uỷ ban hành chính ở các cấp khác nhau, quyền hạn và trách nhiệm của từng cấp, cũng như mối quan hệ giữa Uỷ ban hành chính với các cơ quan chuyên môn.