Chỉ thị số 11/CT Về việc cắm mốc chỉ giới phạm vi bảo vệ đê điều, ranh giới quản lý đê trong tỉnh.

Chỉ thị này yêu cầu các huyện, thành thị trong tỉnh Vĩnh Phúc cắm mốc chỉ giới phạm vi bảo vệ đê điều và ranh giới quản lý đê để đảm bảo an toàn cho đê. Mục tiêu là ngăn chặn tình trạng xâm phạm hành lang bảo vệ đê và thực hiện tốt nhiệm vụ phòng chống lụt bão.

문서 번호11/CT
문서 유형지시
발행 기관Phú Thọ
서명자Nguyễn Văn Lâm — Phó Chủ tịch
업데이트01. 08. 2026
산업Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn
분야Chưa Phân Loại
발행일25. 04. 1994
발효일25. 04. 1994
효력 만료일
상태발효 중
✦ 스마트 요약

Chỉ thị này yêu cầu các huyện, thành thị trong tỉnh Vĩnh Phúc cắm mốc chỉ giới phạm vi bảo vệ đê điều và ranh giới quản lý đê để đảm bảo an toàn cho đê. Mục tiêu là ngăn chặn tình trạng xâm phạm hành lang bảo vệ đê và thực hiện tốt nhiệm vụ phòng chống lụt bão.

적용 범위

UBND các huyện, thành thị có đê trong tỉnh Vĩnh Phúc; Sở Thủy lợi; Sở Văn hóa Thông tin - Thể thao; Đài phát thanh tỉnh; các xã, phường ven đê.

핵심 사항

  • Các huyện, thành thị phải cắm mốc chỉ giới phạm vi bảo vệ đê cho tất cả các tuyến đê, với hành lang bảo vệ khác nhau tùy theo cấp độ của đê (20-25m cho đê cấp I, II, III và 10-20m cho đê cấp IV, V).
  • Các mốc chỉ giới phải được đúc bằng bê tông và ghi rõ thông tin. Mốc cần cắm ở các vị trí phù hợp với mật độ dân cư.
  • Phải tiến hành cắm mốc phân định ranh giới quản lý đê giữa các đơn vị hành chính.
  • Các tuyến đê từ cấp I đến V phải được cắm mốc cây số đê.
  • Nghiêm cấm giao đất thuộc hành lang bảo vệ đê dùng vào mục đích thổ cư, đào ao, đào giếng hoặc khai thác đất cát. Các vi phạm cần bị xử lý nghiêm minh.

🌐 이 문서의 사회적 영향

  • Tác động tích cực: Giúp bảo vệ an toàn cho đê điều và phòng chống lụt bão.
  • Tác động tiêu cực: Có thể gây khó khăn trong việc sử dụng đất ven đê, ảnh hưởng đến quyền lợi của một số hộ dân.

❓ 자주 묻는 질문

Các huyện, thành thị phải cắm mốc chỉ giới phạm vi bảo vệ đê khi nào?

Phải hoàn thành trước 31/7/1994 ở những đoạn đê xung yếu và các đoạn khác phải xong trong năm 1994.

Hành lang bảo vệ đê cấp I, II, III bao nhiêu mét?

20m về phía sông và 25m về phía đồng.

Các mốc chỉ giới phạm vi bảo vệ đê điều được làm bằng gì?

Được đúc bằng bê tông theo mẫu thiết kế của Sở Thủy lợi.

Việc cắm mốc chỉ giới phạm vi bảo vệ đê điều có ưu tiên thứ tự nào không?

Có, việc này được ưu tiên thứ nhất và phải xong trước 31/7/1994 ở những đoạn đê xung yếu.

Việc cắm mốc chỉ giới phạm vi bảo vệ đê điều có chi phí bao nhiêu?

Đề xuất đầu tư từ Trung ương cho các đê cấp I đến III và từ tỉnh cho các đê cấp IV đến V.

전문


UBND TỈNH VĨNH PHÚ

_____________

Số: 11/CT

CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

______________________

Hà Nội. ngày 25 tháng 4 năm 1994

CHỈ THỊ CỦA CHỦ TỊCH UBND TỈNH VĨNH PHÚ

Về việc cắm mốc chỉ giới phạm vi bảo vệ đê điều, ranh giới quản lý đê

trong tỉnh

Thi hành Pháp lệnh về đê điều và Nghị định số 429/CT ngày 15/12/1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) qui định việc thi hành Pháp lệnh về đê điều, Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo các huyện, thành thị, xã phường trong tỉnh tích cực tuyên truyền giáo dục, thuyết phục và các biện pháp hành chính để ngăn chặn tình trạng xâm phạm đến an toàn đê. Tuy nhiên kết quả còn rất hạn chế, hiện nay trên các tuyến đê nhất là trên các tuyến đê cấp I, tệ nạn vi phạm pháp lệnh về điều như lấn chiếm cơ đê, mái đê, mặt đê để xây dựng nhà cửa, làm vườn, làm lều, quán trên đê, đào thùng đấu lấy đất đóng gạch trong hành lang bảo vệ đê vẫn gia tăng.

Để lập lại kỷ cương pháp luật trong lĩnh vực quản lý bảo vệ đê điều, hoàn thành tốt nhiệm vụ phòng chống lụt bão, bảo vệ an toàn tính mạng tài sản của nhân dân và Nhà nước - Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu UBND các huyện, thành thị có đê, chỉ đạo các cấp, các ngành thuộc địa phương mình thực hiện ngay một số việc cấp bách dưới đây:

1. Quán triệt cho cán bộ và nhân dân địa phương có đê thấy rõ ý nghĩa, mục đích yêu cầu, nội dung của việc cắm mốc, chỉ giới phạm vi bảo vệ đê điều, thông qua hình thức hội họp, phương tiện thông tin đại chúng... phù hợp với các đối tượng cần phải truyền đạt.

2. Tiến hành cắm mốc chỉ giới phạm vi bảo vệ đê cho tất cả các tuyến đê: Trước hết phải xác định hành lang bảo vệ đê:

- Đối với đê cấp I, II, III thì hành lang bảo vệ tính từ chân đê trở ra về phía sông 20m, về phía đồng 25m.

- Đối với đê cấp IV, V phấn đấu tu bổ bảo đảm cao trình, kích thước mặt, cơ, chân đê còn thiếu, bảo đảm chống được nước lũ ở mức báo động số 3 trở lên. Vùng hành lang bảo vệ của loại đê này tính từ chân đê trở ra về phía sông 10m, về phía đồng 20m.

Mốc chỉ giới phải đúc bằng bê tông theo mẫu thiết kế của Sở Thủy lợi và ghi rõ: "Chỉ giới phạm vi bảo vệ đê". Ở vùng dân cư đông đúc thì cứ 100m đến 200m có một mốc, nơi thưa hoặc xa dân cư cứ 500m một mốc, cần cắm ở những nơi có đường lên đê.

Việc cắm mốc chỉ giới phạm vi bảo vệ đê điều được tiến hành trên cơ sở luật pháp, không được châm chước hoặc lệ thuộc vào sự sử dụng đất hiện tại.

3. Tiến hành cắm mốc phân định ranh giới quản lý đê giữa các huyện, thành, thị, xã, phường. Giao trách nhiệm cho Sở Thủy lợi cùng các huyện, thành, thị xã, phường tiến hành cắm mốc phân định ranh giới quản lý đê.

Khi cắm mốc giữa phường xã yêu cầu có đại diện huyện (phòng tổ chức, QLRĐ, phòng thủy lợi) chứng kiến. Khi cắm mốc giữa các huyện, yêu cầu có đại diện tỉnh chứng kiến (thành phần như ở huyện).

4. Tiến hành cắm mốc cây số đê:

Các tuyến đê từ cấp I đến cấp V, yêu cầu Sở Thủy lợi cùng với các huyện, thành, thị tiến hành cắm các mốc cây số đê cho từng tuyến.

5. Kế hoạch thực hiện:

a. Ủy ban nhân dân huyện, thành thị có đê ra thông báo cho cán bộ và nhân dân địa phương biết và quán triệt chủ trương cắm mốc, đồng thời giao nhiệm vụ bảo vệ đê điều, phòng chống lụt bão đoạn đê thuộc từng địa phương quản lý.

b. Nghiêm cấm các huyện, thành, thị giao đất thuộc hành lang bảo vệ đê điều dùng vào mục đích thổ cư, đào ao, đào giếng hoặc khai thác đất cát trong phạm vi bảo vệ đê. Đối với các trường hợp cố ý vi phạm, cần được xử lý nghiêm minh, dứt điểm, không để tồn đọng.

Đối với nhà cửa và công trình kiến trúc do lịch sử để lại hiện có trong hành lang bảo vệ đê, yêu cầu Sở Thủy lợi cùng các huyện, thành thị hoàn tất việc thống kê, phân loại và tiến hành xử lý theo Nghị định 429/HĐBT ngày 15/12/1990. Các giếng từng bị sủi nước đục trong mùa lũ, huyện, thành, thị có kế hoạch xử lý (bao gồm làm các kiểu giếng lọc hoặc lấp bỏ).

c. Các huyện, thành, thị giao trách nhiệm quản lý thường xuyên việc bảo vệ đê, bảo vệ các mốc (mốc chỉ giới, mốc cây số đê, mốc ranh giới, mốc di tích nơi vỡ đê) cho xã, phường thuộc địa phương mình.

d. Về thông tin tuyên truyền: Sở Văn hóa Thông tin - Thể thao, Đài phát thanh tỉnh phối kết hợp với Sở Thủy lợi tuyên truyền, quảng cáo về chủ trương, mục đích cắm các mốc đê điều, cổ vũ nêu gương kịp thời những cá nhân đơn vị, địa phương thi hành tốt pháp lệnh về đê điều, đồng thời uốn nắn xử lý kịp thời những cá nhân đơn vị địa phương vi phạm Pháp lệnh về đê điều. Các phương tiện thông tin của huyện, thành, thị và các xã cũng phải làm tốt công tác tuyên truyền này.

d. Huyện, thành, thị thành lập đoàn kiểm tra việc thi hành Pháp lệnh về đê điều. Thành phần đoàn gồm: Thanh tra, Công an, đại diện UBND huyện, phòng ban chức năng và chủ tịch UBND các xã ven đê. Các đoàn kiểm tra căn cứ vào Pháp lệnh về đê điều và căn cứ vào quyết định số 540 QĐ-UB, ngày 5/6/1992 của Ủy ban nhân dân tỉnh "Ban hành bản quy định tạm thời xử phạt hành chính các hành vi vi phạm pháp lệnh về đê điều" để thực hiện nhiệm vụ.

e. Về thứ tự ưu tiên: Việc cắm mốc chỉ giới phạm vi bảo vệ đê điều được ưu tiên thứ nhất và phải xong trước 31/7/1994 ở những đoạn đê xung yếu, đoạn đang bị lấn chiếm, các đê còn lại phải xong trong 1994.

6. Về đầu tư cho xây dựng các loại mốc đê:

- Đê từ cấp I đến cấp III, Sở Thủy lợi lập kế hoạch báo cáo Bộ Thủy lợi xin vốn Trung ương đầu tư.

- Đê từ cấp IV đến cấp V, Sở Thủy lợi phối hợp với Sở Tài chính - Vật giá lập kế hoạch trình Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét quyết định trước 30/4/1994. Việc cắm mốc chỉ giới phạm vi bảo vệ đê điều, ranh giới quản lý đê là cần thiết và cấp bách trong việc quản lý bảo vệ đê. Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu các Sở, ban ngành liên quan, Chủ tịch UBND huyện, thành, thị chỉ đạo tích cực, có kế hoạch cụ thể về cắm mốc trước ngày 22/5/1995./.

PHÓ CHỦ TỊCH

(Đã ký) 

Nguyễn Văn Lâm

이 문서의 원본 파일을 업데이트하는 중입니다. 전문을 먼저 확인하시고 나중에 다시 확인해 주세요.

관계도

11/CT
Chỉ thị số 11/CT Về việc cắm mốc chỉ giới phạm vi bảo vệ đê điều, ranh giới quản lý đê trong tỉnh.
발효 중

문서를 클릭하면 열립니다. 빨간 테두리=효력을 변경하는 관계.