Thông tư số 11/LĐTBXH-TT hướng dẫn chế độ bảo hiểm xã hội cho người làm nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Văn bản này quy định cách tính thời gian làm nghề để hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội và áp dụng các điều kiện cụ thể về bảo hiểm xã hội cho đối tượng được chỉ dẫn.
Scope of application
Người lao động làm trong các nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc Danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định.
Key points
- Người lao động làm trong các nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm được tính thời gian làm việc từ năm 1960 trở lại (nếu trước đây đã làm) để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội.
- Cách tính thời gian làm việc dựa trên Danh mục nghề do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định, với các loại V, VI được tính là đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; IV được tính là nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.
- Người lao động làm cùng một nghề hoặc công việc nhưng trước đây chưa được xếp loại mà nay được xếp loại IV trở lên thì thời gian làm việc từ khi bắt đầu làm nghề đó được tính theo loại IV trở lên.
- Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký và bãi bỏ các quy định cũ trái với Thông tư này.
- Người lao động đã nghỉ việc trước ngày Thông tư này có hiệu lực không áp dụng việc tính lại thời gian công tác theo quy định tại Thông tư này.
🌐 Social impact of this document
- Tác động tích cực: Giúp người lao động làm trong các nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm được hưởng đầy đủ chế độ bảo hiểm xã hội.
- Tác động tiêu cực: Có thể gây khó khăn cho quá trình tính toán thời gian làm việc của người lao động đã nghỉ việc trước khi Thông tư này có hiệu lực.
❓ Frequently asked questions
Người lao động làm trong các nghề nào được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội theo Thông tư này?
Người lao động làm trong các nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc Danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định.
Cách tính thời gian làm việc như thế nào?
Căn cứ vào nghề hoặc công việc trong Danh mục ban hành kèm theo các Quyết định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội để áp dụng. Thời gian làm việc được tính từ năm 1960 trở lại nếu trước đây đã làm.
Người lao động làm cùng một nghề nhưng chưa được xếp loại, nay được xếp loại IV trở lên thì thời gian làm việc được tính như thế nào?
Thời gian làm việc từ khi bắt đầu làm nghề đó được tính theo loại IV trở lên.
Thông tư này có hiệu lực từ ngày nào?
Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký.
Người lao động đã nghỉ việc trước khi Thông tư này có hiệu lực có được tính lại thời gian công tác không?
Không, những người đã nghỉ việc hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội trước ngày Thông tư này có hiệu lực không áp dụng việc tính lại thời gian công tác theo quy định tại Thông tư này.
Full text
|
BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 11/LĐTBXH-TT |
Ngày 07 tháng 04 năm 1997 |
THÔNG TƯ
Hướng dẫn chế độ áp dụng chế độ bảo hiểm xã hội đối với người làm nghề hoặc công việc thuộc danh mục nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm
Căn cứ Điều lệ bảo hiểm xã hội ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26-1-1995 và Điều lệ bảo hiểm xã hội đối với sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan, binh sỹ quân đội và công an nhân dân ban hành kèm theo Nghị định số 45/CP ngày 15-7-1995 của Chính phủ;
Căn cứ vào các Quyết định số 1453/LĐTBXH-TT ngày 13-10-1995, số 915/LĐTBXH-TT ngày 30-7-1996, số 1629/LĐTBXH-TT ngày 26-12-1996, số 1085/LĐTBXH-TT ngày 6-9-1996 và số 44/LĐTBXH-TT ngày 29-1-1997 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành tạm thời Danh mục nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm;
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn áp dụng các chế độ bảo hiểm xã hội đối với người làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm như sau:
I. ĐỐI TƯỢNG ÁP DỤNG
Bao gồm những người thực sự làm các nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc Danh mục nghề do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định và thuộc diện thực hiện bảo hiểm xã hội bắt buộc quy định tại các văn bản sau:
Điều lệ bảo hiểm xã hội ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26-1-1995 của Chính phủ và Thông tư số 06/LĐTBXH-TT ngày 4-4-1995 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện Điều lệ Bảo hiểm xã hội;
Điều lệ Bảo hiểm xã hội đối với sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan, binh sỹ quân đội nhân dân và công an nhân dân ban hành kèm theo Nghị định số 45/CP ngày 15-7-1995 của Chính phủ và Thông tư số 29/LB-TT ngày 2-11-1995 của Liên Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội - Quốc phòng - Nội vụ hướng dẫn thực hiện Điều lệ Bảo hiểm xã hội.
II. CÁCH TÍNH THỜI GIAN LÀM NGHỀ HOẶC CÔNG VIỆC
ĐẶC BIỆT NẶNG NHỌC, ĐỘC HẠI, NGUY HIỂM VÀ
NẶNG NHỌC, ĐỘC HẠI, NGUY HIỂM ĐỂ HƯỞNG BẢO HIỂM XÃ HỘI
1. Nguyên tắc tính thời gian.
Căn cứ vào nghề hoặc công việc trong Danh mục ban hành kèm theo các Quyết định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội để áp dụng như sau:
a - Người có thời gian làm nghề hoặc công việc xếp loại V, loại VI được tính là thời gian làm nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.
b - Người có thời gian làm nghề hoặc công việc xếp loại IV được tính là thời gian làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.
2. Cách tính thời gian đối với người đã có quá trình làm nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành.
a - Đối với người làm nghề hoặc công việc trước đây (trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành) đã được xếp loại IV, nay theo Danh mục nghề mới xếp cùng loại IV thì thời gian được tính theo loại IV kể từ khi bắt đầu làm nghề hoặc công việc đó.
Thí dụ:
Một người có thời gian làm 1 nghề từ năm 1960 đến nay, trước đây nghề này được xếp loại IV, nay theo Danh mục nghề mới cũng được xếp loại IV thì người này được tính thời gian làm nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm từ năm 1960 đến nay.
b - Đối với người làm nghề hoặc công việc mà trước đây đã được xếp loại V, nay theo Danh mục nghề mới cũng được xếp loại V hoặc xếp loại VI thì thời gian được tính theo loại V hoặc loại VI kể từ khi bắt đầu làm nghề hoặc công việc đó.
Thí dụ:
Một người có thời gian làm 1 nghề từ năm 1970 đến nay, trước đây nghề này được xếp loại V, nay theo Danh mục nghề mới cũng được xếp loại V thì người này được tính thời gian làm nghề đặc biệt nặng nhọc từ năm 1970 đến nay.
c - Đối với người làm cùng 1 nghề hoặc công việc nhưng trước đây chưa được xếp loại mà nay nghề hoặc công việc này được xếp loại IV trở lên thì thời gian làm nghề hoặc công việc này được tính loại IV trở lên từ khi bắt đầu làm nghề hoặc công việc đó.
Thí dụ:
Một người có thời gian làm thợ xây ở Trường Sa từ năm 1992 nhưng chưa được xếp loại, nay theo Danh mục nghề mới được xếp loại IV thì được tính thời gian làm công việc loại IV từ năm 1992 đến nay.
d - Đối với người làm nghề hoặc công việc mà trước đây được xếp loại thấp hơn, nay theo Danh mục mới nghề hoặc công việc đó được xếp loại cao hơn thì người này được tính thời gian theo loại cao hơn kể từ khi bắt đầu vào làm nghề hoặc công việc đó.
Thí dụ:
Một công nhân làm nhiệm vụ xây lắp, sửa chữa đường cáp ngầm thông tin từ năm 1972, được xếp loại IV; nay theo Quyết định số 1453//LĐTBXH-QĐ ngày 13-10-1995 được xếp loại V thì thời gian làm nghề xây lắp sửa chữa cáp ngầm được tính từ năm 1972 đến nay là loại V.
e - Đối với một người làm nghề hoặc công việc mà trước đây đã được xếp loại cao hơn, nay theo Danh mục nghề mới xếp loại thấp hơn thì được tính thời gian làm nghề hoặc công việc theo loại cao đã xếp từ khi làm nghề hoặc công việc đó đến nay, từ nay trở đi tính theo loại mới thấp hơn.
Thí dụ:
Một quân nhân có thời gian từ 1980 đến nay làm thủ kho xăng dầu. Thời gian từ 1980 đến nay được xếp loại V theo quy định tại phụ lục kèm theo Thông tư số 313/TT-LB ngày 3-3-1994 của Liên Bộ Quốc phòng - Lao động-Thương binh và xã hội - Tài chính. Từ nay trở đi được xếp loại IV theo Danh mục nghề kèm theo Quyết định số 1085/LĐTBXH-QĐ ngày 6-9-1996 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Cách tính thời gian của quân nhân là:
Từ năm 1980 đến nay được tính là nghề loại V (nghề đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm);
Từ nay trở đi được tính là nghề loại IV (nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm).
III. ÁP DỤNG CÁC CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI
Đối với người làm nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm được hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội như những người lao động khác; đồng thời còn được hưởng các chế độ theo những quy định riêng tại Điều lệ Bảo hiểm xã hội ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26-1-1995 của Chính phủ và Thông tư số 06/LĐ-TBXH-TT ngày 4-4-1995 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hoặc Điều lệ Bảo hiểm xã hội đối với sỹ quan, binh sỹ quân đội nhân dân và công an nhân dân ban hành kèm theo Nghị định số 45/CP ngày 15-7-1995 của Chính phủ và Thông tư số 29/LB-TT ngày 2-11-1995 của Liên Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội - Quốc phòng - Nội vụ.
IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký. Các quy định trước đây trái với Thông tư này đều bãi bỏ.
Những người đã nghỉ việc hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội trước ngày Thông tư này có hiệu lực không áp dụng việc tính lại thời gian công tác theo quy định tại Thông tư này.
Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc, đề nghị phản ảnh về Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội nghiên cứu, giải quyết./.
|
BỘ TRƯỞNG (Đã ký) Trần Đình Hoan |
Download
The original file of this document is being updated. Please read the full text and check back later.
Relations map
Click a document to open. A red border = a relation that changes validity.