Thông tư này hướng dẫn việc lập kế hoạch ngoại tệ năm 1977 cho các Bộ, ngành và đơn vị trong cả nước. Nó nhấn mạnh tầm quan trọng của cân đối ngoại tệ và yêu cầu xây dựng kế hoạch đồng thời với kế hoạch kinh tế. Các bộ môn cần thảo luận dân chủ, bảo đảm tính tích cực và vững chắc, khai thác điều kiện sẵn có để tăng thu ngoại tệ.
Đối tượng áp dụng
Các Bộ, ngành, đơn vị trong cả nước
Các điểm cốt lõi
- Các Bộ, ngành cần hướng dẫn các bộ môn quán triệt tinh thần nghị định 172-CP và nghị quyết 19-CP về quản lý ngoại tệ.
- Kế hoạch ngoại tệ là một phần của kế hoạch kinh tế quốc dân và gắn liền với kế hoạch ngân sách Nhà nước.
- Phải có phương hướng rõ ràng, giành tỷ lệ đầu tư cần tiết để thúc đẩy các hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm tăng thu ngoại tệ.
- Cân đối chặt chẽ mỗi khoản chi ngoại tệ để bảo đảm hiệu quả và tiết kiệm nhất.
- Thời gian lập kế hoạch: từ tháng 6-8 đơn vị cơ sở xây dựng kế hoạch, đến cuối tháng 9 Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước trình Thường vụ Hội đồng Chính phủ.
🌐 Tác động xã hội từ văn bản này
- Tác động tích cực là việc tăng cường quản lý và cân đối ngoại tệ sẽ giúp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.
- Tác động tiêu cực có thể là gánh nặng công tác lập kế hoạch cho các đơn vị, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ ngành.
❓ Câu hỏi thường gặp
Các Bộ, ngành cần làm gì để thực hiện thông tư này?
Các Bộ, ngành cần hướng dẫn các bộ môn quán triệt tinh thần nghị định 172-CP và nghị quyết 19-CP về quản lý ngoại tệ.
Kế hoạch ngoại tệ năm 1977 bao gồm những nội dung gì?
Kế hoạch ngoại tệ cần bao gồm cả xuất khẩu và nhập khẩu, đồng thời với kế hoạch kinh tế, dự án kế hoạch thu chi tài vụ.
Thời gian lập kế hoạch như thế nào theo thông tư này?
Tháng 6-8 đơn vị cơ sở xây dựng kế hoạch, tháng 7-8 Bộ tổng hợp cân đối kế hoạch ngành, cuối tháng 8-9 Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước trình Thường vụ Hội đồng Chính phủ.
Có những hội nghị chuyên đề nào được tổ chức để hướng dẫn lập kế hoạch ngoại tệ?
Bộ Tài chính sẽ tổ chức các hội nghị chuyên đề như kế hoạch ngoại thương, kế hoạch về các hoạt động phi mậu dịch.
Thủ tục giao kế hoạch chính thức ra sao?
Tháng 11/1976 Thủ tướng Chính phủ sẽ giao kế hoạch chính thức cho các Bộ.
Toàn văn
|
BỘ TÀI CHÍNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - tự do - hạnh phúc ------------------------------ |
|
Số : 11 TC/NT |
Hà nội ngày 23 tháng 6 năm 1976 |
THÔNG TƯ
Hướng dẫn việc lập kế hoạch ngoại tệ năm 1977.
Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ thị số 206-TTg ngày 15 tháng 5 năm 1976 về việc xây dựng kế hoạch Nhà nước năm 1977.
Do việc mở rộng các quan hệ buôn bán và các hình thức hợp tác với các nước ngoài nên việc tính toán khả năng thu cũng như yêu cầu chi ngoại tệ ngày càng có ý nghĩa quan trọng. Cân đối ngoại tệ là một trong những vấn đề cấp bách nhất của Nhà nước ta hiện nay.
Chấp hành chỉ thị số 206-TTg ngày 15/5/1976 về việc xây dựng kế hoạch Nhà nước năm 1977, thông tư này hướng dẫn việc lập kế hoạch ngoại tệ năm 1977.
1/ Đề nghị các Bộ, các ngành hướng dẫn các bộ môn quán triệt tinh thần nghị định 172-CP ngày 1/11/1973 và nghị quyết 19CP ngày 29/1/1976 của Hội đồng Chính phủ về những điểm liên quan đến việc quản lý ngoại tệ, đặc biệt là về việc “xây dựng kế hoạch hàng năm ... bao gồm cả xuất khẩu và nhập khẩu” (điều 7 nghị định 172-CP) ... “Dự án kế hoạch thu chi tài vụ ... thu chi tài vụ và dự án dự toán kinh phí (kể cả kế hoạch thu chi ngoại tệ nếu có ) của ngành phải làm đồng thời với kế hoạch kinh tế” (điều 26 - nghị định 172-CP) .... “ Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước hướng dẫn các ngành, các cấp thực hiện các chỉ tiêu pháp lệnh sau đây giao thêm cho xí nghiệp ... sản lượng hàng hoá cung cấp cho xuất khẩu” (điểm 5, mục II, nghị quyết 19 - CP).
Cần nhận thức rõ kế hoạch ngoại tệ là một bộ phận của kế hoạch kinh tế quốc dân và gắn chặt với kế hoạch ngân sách Nhà nước; là một công cụ để Nhà nước thống nhất quản lý mọi hoạt động thu chi ngoại tệ của các Bộ, các ngành, các đơn vị trong toàn quốc.
Các bộ môn hữu quan cần ra sữc phát huy tinh thần dân chủ trong khi thảo luận, xây dựng kế hoạch; nêu cao tinh thần trách nhiệm bảo đảm tính tích cực và tính vững chắc và hết sức quan tâm đến yêu cầu cân đối ngoại tệ của Nhà nước, trên cơ sở đó mà ra sức khai thác các điều kiện sẵn có về tài nguyên, đất đai, hàng hoá, phục vụ .... và giành tỷ lệ thích đáng cho xuất khẩu (hữu hình và vô hình) để tranh thủ nhiều ngoại tệ.
Có phương hướng rõ ràng, giành tỷ lệ đầu tư cần tiết để thúc đẩy các hoạt động (sản xuất, kinh doanh, hợp tác ...) nhằm góp phần tăng nhanh số thu ngoại tệ.
Tính toán chặt chẽ mỗi khoản chi ngại tệ nhằm bảo đảm hiệu quả cao. Tận dụng mọi khả năng về hàng hoá, lao vụ của ta, soát xét kỹ những việc chi tiêu bằng ngoại tệ về các hoạt động phi mậu dịch và lao vụ khác (bưu điện, hàng không ...) để chi tiêu thật hợp lý và tiết kiệm nhất, góp phần giải quyết tốt cán cân thanh toán quốc tế của Nhà nước.
Căn cứ vào những nhiệm vụ chính trị, số kiểm tra 1977, các chỉ tiêu kinh tế - tài chính, các định mức giá, phí hiện hành, bảng tỷ giá ngoại tệ để sử dụng thống nhất trong khi xây dựng và tổng hợp kế hoạch.
2/ Để khắc phục những thiếu sót trước đây đưa công tác xây dựng kế hoạch ngoại tệ đi dần vào nền nếp, Bộ Tài chính sẽ tổ chức những hội nghị chuyên đề (kế hoạch ngoại tệ ngoại thương, kế hoạch ngoại tệ về các hoạt động phi mậu dịch ...) để bàn bạc với các Bộ, các ngành, các đơn vị cách thức lập kế hoạch ngoại tệ năm 1977 (lịch làm việc cụ thể sẽ thông báo sau).
Tiến độ lập kế hoạch đã được nêu ra trong chỉ thị số 206-TTg ngày 15/5/1976, cụ thể là:
Tháng 6-8 đơn vị cơ sở xây dựng kế hoạch
Tháng 7-8 Bộ tổng hợp cân đối kế hoạch ngành.
Cuối tháng 8-9 Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, (Bộ Tài chính) trình Thường vụ Hội đồng Chính phủ.
Tháng 9-10 Uỷ ban kế hoạch Nhà nước, (Bộ Tài chính) tổng hợp và cân đối kế hoạch trình cơ quan lãnh đạo.
Tháng 11/1976 Thủ tướng Chính phủ giao kế hoạch chính thức cho các Bộ.
Trên đây là những điểm chủ yếu cần chú trọng thực hiện khi xây dựng kế hoạch ngoại tệ năm 1977. Trong quá trình thực hiện nếu có vấn đề gì mắc mứu, đề nghị phản ảnh về Bộ Tài chính.
|
|
K/T BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH THỨ TRƯỞNG (Đã ký)
Trịnh Văn Bính |
Bản đồ quan hệ
Bấm vào một văn bản để mở. Viền đỏ = quan hệ làm thay đổi hiệu lực.
Bản dịch
Văn bản này có sẵn ở các ngôn ngữ sau: