Thông tư liên tịch số 1308/TC-KHKT Thông tư hướng dẫn chế độ thu hồi kinh phí đối với hoạt động khoa học và công nghệ

Thông tư số 1308/TC-KHKT hướng dẫn chế độ thu hồi kinh phí từ hoạt động khoa học và công nghệ do ngân sách nhà nước cấp, nhằm khuyến khích sử dụng hiệu quả nguồn vốn này. Văn bản quy định cụ thể về các khoản thu hồi, phân phối và quản lý quỹ hỗ trợ phát triển khoa học.

Số hiệu1308/TC-KHKT
Loại văn bảnThông tư liên tịch
Cơ quan ban hànhBộ Tài Chính
Người kýÐặng Hữu
Cập nhật16/06/2026
NgànhLao Động - Thương Binh Và Xã Hội
Lĩnh vựcChưa Phân Loại
Ngày ban hành23/11/1990
Ngày áp dụng23/11/1990
Ngày hết hiệu lực
Tình trạngCòn hiệu lực
✦ Tóm lược thông minh

Thông tư số 1308/TC-KHKT hướng dẫn chế độ thu hồi kinh phí từ hoạt động khoa học và công nghệ do ngân sách nhà nước cấp, nhằm khuyến khích sử dụng hiệu quả nguồn vốn này. Văn bản quy định cụ thể về các khoản thu hồi, phân phối và quản lý quỹ hỗ trợ phát triển khoa học.

Đối tượng áp dụng

Các cơ quan thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ; Ủy ban Khoa học Nhà nước

Các điểm cốt lõi

  • Cơ quan thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ phải thu hồi một phần kinh phí từ việc bán sản phẩm, phế liệu, vật tư thừa (Điều I).
  • 70% giá trị sản phẩm tạo ra và phế liệu, phế phẩm được thu hồi từ đề tài nghiên cứu KHCN nộp lại cho Ủy ban Khoa học Nhà nước; 30% còn lại được cơ quan thực hiện sử dụng để trích lập các quỹ theo quy định (Điều III.1.a).
  • 100% giá trị vật tư thừa và giá trị còn lại của tài sản cố định sau khi kết thúc công trình phải nộp cho Ủy ban Khoa học Nhà nước để lập quỹ hỗ trợ phát triển khoa học (Điều III.1.b).
  • Từ năm 1990, ngân sách nhà nước sẽ thu hồi từ 80 đến 100% kinh phí hỗ trợ sản xuất thử và thử nghiệm để lập quỹ hỗ trợ phát triển KHCN của Nhà nước (Điều III.3).
  • Ủy ban Khoa học Nhà nước phải mở tài khoản riêng tại kho bạc nhà nước để quản lý quỹ hỗ trợ phát triển khoa học, sử dụng theo nguyên tắc chung quy định trong thông tư này (Điều IV)

🌐 Tác động xã hội từ văn bản này

  • Khuyến khích các đơn vị thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng hiệu quả kinh phí cấp.
  • Hạn chế việc lãng phí tài nguyên do không sử dụng hết trong quá trình nghiên cứu.
  • Tạo nguồn vốn bổ sung cho hoạt động nghiên cứu khoa học, triển khai ứng dụng tiến bộ kỹ thuật.
  • Gây khó khăn cho các đơn vị có ít kinh nghiệm quản lý tài chính trong thu hồi và phân phối quỹ.

❓ Câu hỏi thường gặp

Cơ quan thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ phải nộp bao nhiêu phần trăm giá trị sản phẩm tạo ra và phế liệu, phế phẩm?

70% giá trị sản phẩm tạo ra và phế liệu, phế phẩm được thu hồi từ đề tài nghiên cứu KHCN nộp lại cho Ủy ban Khoa học Nhà nước.

Cơ quan thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ có quyền sử dụng bao nhiêu phần trăm giá trị sản phẩm tạo ra?

30% còn lại được cơ quan thực hiện sử dụng để trích lập các quỹ theo quy định.

Từ năm 1990, ngân sách nhà nước thu hồi bao nhiêu phần trăm kinh phí hỗ trợ sản xuất thử và thử nghiệm?

80 đến 100% kinh phí hỗ trợ sản xuất thử và thử nghiệm để lập quỹ hỗ trợ phát triển KHCN của Nhà nước.

Ủy ban Khoa học Nhà nước sử dụng quỹ hỗ trợ phát triển khoa học như thế nào?

Sử dụng cho những nhiệm vụ khoa học và công nghệ đột xuất chưa ghi trong kế hoạch đầu năm, tạm ứng để đảm bảo tiến độ thực hiện công trình nghiên cứu đã ghi kế hoạch năm.

Ủy ban Khoa học Nhà nước được trích bao nhiêu phần trăm tổng số tiền thu hồi để chi phí quản lý quỹ?

0,5% tổng số tiền thu hồi thực nộp vào tài khoản tại kho bạc nhà nước.

Toàn văn

BỘ TÀI CHÍNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 1308/TC-KHKT

Ngày 23 tháng 11 năm 1990

THÔNG TƯ 

Của liên bộ uỷ ban khoa học nhà nước, Bộ Tài chính 
số 1308/TC-KHKT ngày 24 tháng 11 năm 1990 hướng dẫn chế độ thu hồi kinh phí đối với hoạt động khoa học và công nghệ

Để khuyến khích các đơn vị thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ (KHCN) sử dụng có hiệu quả kinh phí cấp cho họat động KHCN, huy động lại một phần kinh phí thu hồi được để bổ xung nguồn vốn đầu tư cho công tác nghiên cứu khoa học, triển khai và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật; Liên bộ Uỷ ban Khoa học Nhà nước - Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ thu hồi một phần kinh phí ngân sách Nhà nước cấp cho các hoạt động KHCN như sau:

I. NGUYÊN TẮC CHUNG

1. Các cơ quan thực hiện các nhiệm vụ KHCN có trách nhiệm thu hồi một phần kinh phí do ngân sách Nhà nước cấp cho các hoạt động KHCN khi bán các sản phẩm nghiên cứu, chế thử, các phế liệu phế phẩm và vật tư thiết bị không cần dùng trong quá trình thực hiện hoặc khi kết thúc toàn bộ công trình nghiên cứu chế thử.

2. Kinh phí thu hồi để lại một phần cho cơ quan thực hiện các nhiệm vụ KHCN, số còn lại phải nộp cho Uỷ ban Khoa học Nhà nước để lập quỹ hỗ trợ phát triển KHCN của Nhà nước.

II. NỘI DUNG CÁC KHOẢN THU HỒI

Các khoản thu hồi từ nguồn kinh phí hoạt động KHCN do ngân sách Nhà nước cấp phát bao gồm:

1. Các sản phẩm do các đề tài nghiên cứu, chế thử KHCN tạo ra được tiêu thụ trên thị trường.

2. Tiền thu và bán phế liệu, phế phẩm trong quá trình thực hiện các đề tài nói trên.

3. Tiêu thụ và bán vật tư còn thừa sau khi thực hiện các đề tài nói trên.

4. Tài sản cố định, công cụ lao động chuyên dùng được mua sắm bằng vốn ngân sách cấp cho cơ quan để thực hiện các đề tài nói trên, sau khi kết thúc công trình nếu đơn vị không cần dùng thì được nhượng bán nộp vào ngân sách Nhà nước.

Trường hợp đơn vị cần dùng số tài sản này thì được bổ sung vốn cố định của đơn vị và quản lý theo chế độ hiện hành.

Giá cả để tính giá trị sản phẩm và giá trị thu hồi là giá thị trường tại thời điểm ký hợp đồng và được điều chỉnh theo giá bán thực tế khi thanh lý và quyết toán hợp đồng.

III. PHÂN PHỐI VÀ SỬ DỤNG TIỀN THU HỒI

Số tiền thu hồi trong hoạt động KHCN nói trên được phân phối và sử dụng như sau:

1. Đối với đề tài nghiên cứu KHCN thực hiện theo hợp đồng ký giữa cơ quan thực hiện với Uỷ ban Khoa học Nhà nước.

a) Số tiền thu hồi nói ở điểm 1 và 2 phần II Thông tư này, cơ quan thực hiện phải nộp lại cho Uỷ ban Khoa học Nhà nước 70% giá trị sản phẩm tạo ra và phế liệu, phế phẩm đã thu hồi, và ít nhất tương ứng với 30% kinh phí do ngân sách Nhà nước cấp cho hợp đồng. Số còn lại cơ quan thực hiện được sử dụng để trích lập các quỹ theo quy định hiện hành.

b) Số tiền thu hồi nói ở điểm 1 và 2 phần II Thông tư này, cơ quan thực hiện phải nộp l00% giá trị vật tư còn thừa và giá trị còn lại của tài sản cố định cho Uỷ ban Khoa học Nhà nước để lập quỹ hỗ trợ phát triển KHCN.

2. Đối với công trình nghiên cứu, thử nghiệm của các Bộ, Tổng cục, các khoản thu hồi được phân phối theo quy định tại điểm 2 mục B phần V Thông tư số 03/TC-KHKT ngày 28/1/1984 của Liên Bộ Tài chính - Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước, cụ thể:

- 20% nộp ngân sách Nhà nước

- 30% nộp quỹ phát triển KHKT tập trung của Bộ

- 50% cho 3 quỹ theo tỷ lệ sau:

+ 40% cho quỹ phát triển KHKT của cơ sở

+ 40% cho quỹ khen thưởng

+ 20% cho quỹ phúc lợi

3. Từ năm 1990 trở đi, ngân sách Nhà nước sẽ dành một khoản kinh phí trong tổng mức đầu tư cho KHCN để hỗ trợ một phần các nhiệm vụ sản xuất thử, thử nghiệm được thực hiện theo phương thức ký hợp đồng trực tiếp giữa Uỷ ban Khoa học Nhà nước với cơ quan chủ trì thực hiện dự án sản xuất thử, thử nghiệm. Số kinh phí hỗ trợ sản xuất thử và thử nghiệm nói trên được Uỷ ban Khoa học Nhà nước thu hồi từ 80 đến 100% để lập quỹ hỗ trợ phát triển KHCN của Nhà nước. Tỷ lệ thu hồi được xác định trong từng hợp đồng KHCN. Việc miễn hoặc giảm tỷ lệ thu hồi kinh phí hỗ trợ chỉ xem xét trong trường hợp gặp thiên tai hoặc rủi ro bất ngờ trong quá trình thực hiện dự án sản xuất thử, thử nghiệm và được duyệt cụ thể khi nghiệm thu hợp đồng KHCN.

4. Các cơ quan quản lý và thực hiện các nhiệm vụ KHCN phải mở sổ sách theo rõi chi tiết các khoản thu hồi nói trên, cơ quan thực hiện phải nộp các khoản thu hồi cho Uỷ ban Khoa học Nhà nước theo tỷ lệ quy định nói trên và theo đúng các điều khoản ghi trong hợp đồng KHCN đã ký kết.

IV. QUẢN LÝ QUỸ HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN KHCN

1. Uỷ ban Khoa học Nhà nước được dùng nguồn thu nói ở điểm 1 và 3 mục III Thông tư này để lập quỹ hỗ trợ phát triển KHCN của Nhà nước.

Uỷ ban Khoa học Nhà nước phải mở tài khoản riêng tại Kho bạc Nhà nước để theo dõi, quản lý quỹ hỗ trợ phát triển KHCN.

Số thu và chi của quỹ hỗ trợ phát triển KHCN được ghi thu, ghi chi vào ngân sách Nhà nước theo chương, loại, khoản, hạng của mục lục ngân sách Nhà nước như sau:

Ghi thu ngân sách vào chương 11, loại 10, khoản 01 mục 14.

Ghi chi ngân sách vào chương 11, loại 10, khoản 01 mục 75.

Quỹ này không trừ vào tổng mức ngân sách Nhà nước đầu tư cho hoạt động KHCN hàng năm được Quốc hội và Hội đồng Bộ trưởng phê duyệt.

2. Uỷ ban Khoa học Nhà nước có trách nhiệm sử dụng có hiệu quả quỹ phát triển KHCN theo những nguyên tắc chung sau đây:

a) Chi cho những nhiệm vụ KHCN đột xuất chưa ghi trong kế hoạch đầu năm.

b) Tạm ứng để đảm bảo tiến độ thực hiện công trình nghiên cứu KHCN đã ghi kế hoạch năm trong khi ngân sách Nhà nước chưa cấp kinh phí kịp.

c) Bổ sung cho các dự án sản xuất thử, thử nghiệm.

Quỹ này không dùng để chi bù trượt giá và các chế độ mới ban hành khác của Nhà nước.

3. Uỷ ban Khoa học Nhà nước được trích 0,5% tổng số tiền thu hồi thực nộp vào tài khoản tại kho bạc Nhà nước để chi phí cho việc quản lý quỹ, bồi dưỡng cho những cá nhân làm nhiệm vụ thu hồi. Cuối năm nếu không chi hết quỹ này sẽ được phép chuyển sang năm sau.

V. ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc đề nghị các Bộ, Tổng cục, Uỷ ban Nhà nước... các cơ quan hoạt động KHCN phản ánh cho Liên bộ nghiên cứu giải quyết.

Căn cứ vào Thông tư này các Bộ, Tổng cục... các địa phương có văn bản hướng dẫn cụ thể chế độ thu hồi kinh phí đối với các nguồn vốn thuộc ngân sách Nhà nước cấp phát cho các nhiệm vụ KHCN do mình quản lý.

BỘ TÀI CHÍNH

TM. BỘ TRƯỞNG

THỨ TRƯỞNG

(Đã ký)

Đặng Hữu

Văn bản này đang được cập nhật văn bản gốc, vui lòng xem nội dung toàn văn và kiểm tra lại sau.