Quyết định số 182-TTg Về việc cử Chủ tịch Hội đồng tư vấn đặc xá Trung ương

Quyết định số 182-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc cử Chủ tịch Hội đồng tư vấn đặc xá Trung ương và hướng dẫn xét duyệt phạm nhân được đặc xá. Quyết định này áp dụng cho các phạm nhân thuộc các đối tượng cụ thể, với điều kiện và thủ tục xét duyệt do Bộ Nội vụ, Bộ Quốc phòng, Toà án Nhân dân tối cao và Ủy ban nhân dân địa phương thực hiện.

Số hiệu182-TTg
Loại văn bảnQuyết định
Cơ quan ban hànhTài Khoản Trung Ương
Người kýVõ Văn Kiệt — Thủ tướng
Cập nhật02/07/2026
Lĩnh vựcChưa Phân Loại
Ngày ban hành24/03/1995
Ngày áp dụng24/03/1995
Ngày hết hiệu lực—
Tình trạngCòn hiệu lực
✦ Tóm lược thông minh

Quyết định số 182-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc cử Chủ tịch Hội đồng tư vấn đặc xá Trung ương và hướng dẫn xét duyệt phạm nhân được đặc xá. Quyết định này áp dụng cho các phạm nhân thuộc các đối tượng cụ thể, với điều kiện và thủ tục xét duyệt do Bộ Nội vụ, Bộ Quốc phòng, Toà án Nhân dân tối cao và Ủy ban nhân dân địa phương thực hiện.

Các điểm cốt lõi

  • Phó Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải được cử làm Chủ tịch Hội đồng tư vấn đặc xá Trung ương
  • Bộ Nội vụ, Bộ Quốc phòng tổ chức xét duyệt phạm nhân được đặc xá theo đề nghị của Giám thị các trại giam và trình Hội đồng tư vấn đặc xá Trung ương
  • Phạm nhân thuộc đối tượng được xét tha tù bao gồm những người nghiêm chỉnh chấp hành hình phạt, lập công, có hoàn cảnh gia đình khó khăn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo
  • Phạm nhân thuộc đối tượng miễn chấp hành hình phạt tù còn lại là những người mắc bệnh hiểm nghèo hoặc ốm nặng kéo dài và thực sự không nguy hiểm cho xã hội
  • Toà án Nhân dân tối cao hướng dẫn các Toà án cấp lập hồ sơ miễn chấp hành hình phạt tù còn lại

🌐 Tác động xã hội từ văn bản này

  • Tác động tích cực: Giúp cải tạo người phạm tội, giảm gánh nặng cho gia đình và xã hội
  • Tác động tiêu cực: Có thể gây ra sự bất công nếu xét duyệt không công bằng hoặc thiếu minh bạch

❓ Câu hỏi thường gặp

Ai được đặc xá theo Quyết định này?

Phạm nhân thuộc các đối tượng như nghiêm chỉnh chấp hành hình phạt, lập công, có hoàn cảnh gia đình khó khăn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo (Điều 1).

Thời gian chấp hành hình phạt tối thiểu để được đặc xá là bao lâu?

Phạm nhân phải thực sự chấp hành hình phạt tù ít nhất 1/3 thời hạn đối với hình phạt tù có thời hạn; 10 năm đối với tù chung thân (Điều 1).

Có những trường hợp đặc biệt nào để được đặc xá sớm?

Người mắc bệnh hiểm nghèo khó qua khỏi, lập công lớn trong thời gian chấp hành hình phạt hoặc chưa thành niên phạm tội có thể được xét đặc xá sớm (Điều 1).

Ai chịu trách nhiệm hướng dẫn việc xét duyệt đặc xá?

Bộ Nội vụ và Toà án Nhân dân tối cao chịu trách nhiệm hướng dẫn việc xét duyệt đặc xá (Điều 4).

Toàn văn

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Số: 182/TTg

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Hà Nội, ngày 24 tháng 3 năm 1995

 

QUYẾT ĐỊNH 

VỀ VIỆC CỬ CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG TƯ VẤN ĐẶC XÁ TRUNG ƯƠNG 

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;

Căn cứ Quyết định số 335/QĐ-CTN ngày 27/2/1995 của Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đặc xá năm 1995;

Để giúp Chủ tịch nước xét và Quyết định đặc xá;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Cử Phó Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải làm Chủ tịch Hội đồng tư vấn đặc xá Trung ương.

2. Bộ Nội vụ, Bộ Quốc phòng tổ chức xét duyệt những phạm nhân được đặc xá theo đề nghị của Giám thị các trại giam thuộc quyền và trình Hội đồng tư vấn đặc xá Trung ương.

Công văn của hội đồng tư vấn đặc xá trung ương số: 1622/NC ngày 28 tháng 3 năm 1995

Để thực hiện Quyết định số 335/ QĐ-CTN ngày 27/2/1995 của Chủ tịch nước về đặc xá năm 1995, Hội đồng Tư vấn đặc xá Trung ương hướng dẫn việc tổ chức thực hiện như sau:

1/ Về đối tượng được tha tù:

Theo Quyết định số 335/QĐ-CTN ngày 27/2/1995 của Chủ tịch nước thì những phạm nhân đang chấp hành hình phạt tù thuộc các đối tượng dưới đây được xét tha tù năm 1995:

a) Nghiêm chỉnh chấp hành chế độ, nội quy của trại giam, tích cực lao động học tập là phạm nhân có hai năm liền (1993-1994) được đánh giá, xếp loại cải tạo tốt.

b) Đã lập công trong thời gian chấp hành hình phạt tù, thể hiện ở những hành vi sau:

Có công phát hiện, ngăn chặn và tham gia đấu tranh chống tội phạm như phát hiện phạm nhân trốn trại; bắt được phạm nhân trốn khỏi nơi giam; bắt được hoặc phát hiện người có hành vi phạm tội.

Cứu người bị nạn trong tình thế hiểm nghèo; cứu được tài sản có giá trị lớn của Nhà nước, của tập thể hoặc của công dân.

c) Bản thân là thương binh, bệnh binh, người có công với cách mạng được thưởng Huân chương.

Bệnh binh là người được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận là bệnh binh do hoạt động ở chiến trường, ở địa bàn đặc biệt khó khăn gian khổ mà sinh bệnh.

Người có công với cách mạng là người được thưởng Huân chương trong các danh hiệu vinh dự cao quý của Nhà nước hoặc người đã có thành tích giúp đỡ cách mạng được Nhà nước tặng kỷ niệm chương "Tổ quốc ghi công" hoặc bằng "Có công với nước".

d) Có người ruột thịt trong gia đình (vợ hoặc chồng; cha, mẹ đẻ, con đẻ, anh chị em ruột; cha mẹ nuôi, con nuôi hợp pháp) là liệt sĩ.

đ) Bản thân là lao động duy nhất trong gia đình; phụ nữ có con nhỏ dưới 3 tuổi không có người nuôi dưỡng; những người có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn về đời sống như: có con còn nhỏ không người trông nom, bố, mẹ, vợ hoặc chồng già yếu đau ốm thường xuyên, mức sống trong gia đình quá túng thiếu dưới mức nghèo, cơ quan, địa phương phải trợ cấp thường xuyên; hoặc gia đình bị thiên tai, hoả hoạn không còn tài sản gì đáng kể được Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận.

e) Người quá già yếu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo.

Người quá già yếu là người từ 70 tuổi trở lên, hoặc trên 60 tuổi nhưng thường xuyên ốm yếu bệnh tật phải nằm bệnh xá, bênh viện.

Mắc bệnh hiểm nghèo là mắc một trong các bệnh rất nguy hiểm đến tính mạng như: ung thư, xơ gan cổ trướng, lao nặng, bại liệt... có kết luận giám định y khoa.

Những phạm nhân được xét tha nói trên phải thực sự chấp hành hình phạt tù tại trại giam ít nhất 1/3 thời hạn đối với hình phạt tù có thời hạn; 10 năm đối với tù chung thân. Trường hợp đặc biệt, thời gian chấp hành hình phạt tù ngắn hơn 1/4 thời hạn đối với hình phạt tù có thời hạn; 8 năm đối với tù chung thân và đã thể hiện quyết tâm cải tạo. Thời hạn áp dụng trong trường hợp đặc biệt này đối với các đối tượng sau:

Người mắc bệnh hiểm nghèo khó qua khỏi;

Người lập công lớn trong thời gian chấp hành hình phạt tù;

Người chưa thành niên phạm tội.

2/ Về đối tượng miễn chấp hành hình phạt tù còn lại:

Chỉ xét miễn chấp hành hình phạt tù còn lại cho những người đang chấp hành hình phạt tù nhưng được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt thuộc các đối tượng dưới đây:

a) Người mắc bệnh hiểm nghèo nói tại điểm e, mục 1 trên đây.

b) Người ốm nặng kéo dài và thực sự không còn nguy hiểm cho xã hội, là người tuy không mắc bệnh hiểm nghèo nhưng bị đau ốm tới mức không lao động được, không tự phục vụ sinh hoạt bình thường cho bản thân, có kết luận của Hội đồng giám định y khoa. Trong thời gian được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, người đó có thái độ ăn năn, hối lỗi; không còn khả năng hoạt động phạm tội, được Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú xác nhận.

3/ Đối với các đối tượng tuy thuộc một trong các trường hợp được hướng dẫn tại các mục 1, 2 trên đây nhưng đang có kháng nghị theo trình tự Giám đốc thẩm theo hướng tăng nặng hình phạt hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm khác nặng hơn, thì chưa lập hồ sơ và không đưa vào danh sách được đề nghị xét đặc xá.

4/ Tổ chức thực hiện:

a) Bộ Nội vụ có trách nhiệm:

Hướng dẫn, đôn đốc các địa phương, các trại giam lập hồ sơ các đối tượng được đề nghị đặc xá năm 1995 theo Quyết định của Chủ tịch nước và hướng dẫn của Hội đồng Tư vấn đặc xá Trung ương.

Bộ trưởng Bộ Nội vụ là thành viên thường trực của Hội đồng Tư vấn đặc xá Trung ương, được Chính phủ ủy quyền thay mặt Chính phủ đề nghị danh sách phạm nhân được tha tù và danh sách người đang được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù được miễn chấp hành hình phạt tù còn lại, để Hội đồng Tư vấn đặc xá Trung ương xét duyệt và trình Chủ tịch nước quyết định.

Chủ trì phối hợp với các ngành có liên quan trong việc thẩm định và tổng hợp danh sách những đối tượng được đặc xá trình Hội đồng Tư vấn đặc xá Trung ương xét duyệt làm 2 đợt (20/4/1995 và 30/7/1995).

Thường trực Hội đồng Tư vấn đặc xá Trung ương được trưng tập và lập nhóm chuyên viên của Bộ Nội vụ, Toà án Nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao giúp việc.

b) Bộ Quốc phòng có trách nhiệm chỉ đạo các trại giam do Bộ Quốc phòng quản lý, căn cứ vào các quy định tại Điều 1 Quyết định của Chủ tịch nước và hướng dẫn của Hội đồng Tư vấn đặc xá Trung ương, lập hồ sơ tha tù cho phạm nhân mà trại giam có nhiệm vụ quản lý và cải tạo rồi chuyển Bộ Nội vụ tập hợp, thẩm tra xem xét.

c) Toà án Nhân dân tối cao có trách nhiệm hướng dẫn các Toà án các cấp căn cứ vào các quy định tại điểm 2 Quyết định của Chủ tịch nước hướng dẫn của Hội đồng Tư vấn đặc xá Trung ương lập hồ sơ miễn chấp hành hình phạt tù còn lại cho những người được Toà án đó ra quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù rồi chuyển cho Toà án Nhân dân tối cao tập hợp, thẩm tra, xem xét.

d) Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập Hội đồng Tư vấn đặc xá địa phương giúp việc theo công văn số 1332/NC ngày 16/3/1995 của Thủ tướng Chính phủ để phối hợp với các ngành có liên quan hướng dẫn đôn đốc trại tạm giam, trại giam thuộc địa phương mình, lập danh sách các đối tượng được đề nghị đặc xá năm 1995 theo Quyết định của Chủ tịch nước và hướng dẫn của Hội đồng Tư vấn đặc xá Trung ương.

Hội đồng Tư vấn đặc xá tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gồm một Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Chánh án Toà án Nhân dân, Viện kiểm sát Nhân dân, Giám đốc Sở công an, Giám đốc Sở Tư pháp, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc, Chủ tịch Liên đoàn Lao động, Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ) tổ chức việc thẩm định và tổng hợp danh sách các đối tượng được đề nghị đặc xá năm 1995 trình Hội đồng Tư vấn đặc xá Trung ương xét duyệt (qua thành viên thường trực Hội đồng Tư vấn đặc xá Trung ương).

đ) Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức có liên quan, các cơ quan y tế trong phạm vi, chức năng của mình có trách nhiệm cung cấp đẩy đủ, kịp thời các chứng nhận, kết luận có liên quan đến việc đặc xá.

e) Quyết định về đặc xá năm 1995 của Chủ tịch nước là một chủ trương lớn, thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước ta, là kết quả của công tác quản lý, giáo dục, cải tạo người bị kết án tù thành người có ích cho xã hội, góp phần đấu tranh chống địch lợi dụng nhân quyền để chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, vì vậy các cơ quan quản lý Nhà nước về thi hành án, chính quyền, đoàn thể nhân dân, các phương tiện thông tin đại chúng ở Trung ương và địa phương cần tổ chức tuyên truyền sâu, rộng trong nhân dân.

f) Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và lãnh đạo các Bộ, ngành có liên quan tổ chức nghiên cứu kỹ Quyết định về đặc xá năm 1995 của Chủ tịch nước và hướng dẫn của Hội đồng Tư vấn đặc xá Trung ương, để thực hiện một cách nghiêm túc, khẩn trương, tránh những sơ hở và tiêu cực.

g) Việc thực hiện giảm thời gian chấp hành hình phạt tù cho phạm nhân theo quy định tại các Điều 49, 51 Bộ Luật Hình sự và các Điều 237, 238 Bộ Luật Tố tụng hình sự sẽ tiến hành cùng với việc đặc xá do Toà án Nhân dân tối cao và các cơ quan liên quan tổ chức chỉ đạo thực hiện.

Trong quá trình tổ chức thực hiện, nếu có gì vướng mắc kịp thời báo cáo về Hội đồng Tư vấn đặc xá Trung ương (qua thành viên thường trực Hội đồng Tư vấn đặc xá Trung ương) để có hướng dẫn bổ sung./.

Võ Văn Kiệt

(Đã ký)

 

Văn bản này đang được cập nhật văn bản gốc, vui lòng xem nội dung toàn văn và kiểm tra lại sau.

Bản đồ quan hệ

182-TTg
Quyết định số 182-TTg Về việc cử Chủ tịch Hội đồng tư vấn đặc xá Trung ương
Còn hiệu lực
↓ Văn bản chịu tác động từ văn bản này
Dẫn chiếu 1

Bấm vào một văn bản để mở. Viền đỏ = quan hệ làm thay đổi hiệu lực.