Sắc lệnh số 233/SL Về việc sửa đổi Điều 3, 4 Sắc lệnh số 150-SL ngày 12-4-1953 thành lập các toà án nhân dân đặc biệt ở những nơi phát động quần chúng

Sắc lệnh số 233/SL sửa đổi Điều 3 và Điều 4 của Sắc lệnh số 150-SL năm 1953 về thành lập các Tòa án nhân dân đặc biệt trong phong trào phát động quần chúng giảm tô và cải cách ruộng đất. Văn bản quy định chi tiết việc thành lập, tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân đặc biệt tỉnh cũng như phân tòa.

Số hiệu233/SL
Loại văn bảnSắc lệnh
Cơ quan ban hànhBộ Tư Pháp
Người kýHồ Chí Minh — Chủ tịch nước
Cập nhật18/06/2026
Lĩnh vựcChưa Phân Loại
Ban hành16/04/1955
Áp dụng29/06/1955
Hiệu lực01/01/1960
Tình trạngHết hiệu lực
✦ Tóm lược thông minh

Sắc lệnh số 233/SL sửa đổi Điều 3 và Điều 4 của Sắc lệnh số 150-SL năm 1953 về thành lập các Tòa án nhân dân đặc biệt trong phong trào phát động quần chúng giảm tô và cải cách ruộng đất. Văn bản quy định chi tiết việc thành lập, tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân đặc biệt tỉnh cũng như phân tòa.

Đối tượng áp dụng

Ủy ban hành chính liên khu, Ủy ban hành chính tỉnh, Toà án nhân dân đặc biệt tỉnh

Các điểm cốt lõi

  • Ủy ban hành chính tỉnh được phép lập các phân toà và chỉ định thêm số thẩm phán cho các phân toà khi cần thiết (Điều 3).
  • Khi phiên tòa đến xã nào xử thì lấy thêm 5 đại biểu nông dân của xã đó, trong đó phải có nhiều hơn số bần cố nông so với trung nông (Điều 4).
  • Các đại biểu nông dân được bầu ra có quyền hạn và nhiệm vụ như thẩm phán (Điều 4).
  • Thẩm phán do Tòa án tỉnh cử đến sẽ chủ toạ và điều khiển phiên tòa (Điều 4)
  • Việc thành lập Toà án nhân dân đặc biệt tỉnh do Uỷ ban hành chính tỉnh đề nghị và Uỷ ban hành chính liên khu duyệt y.

🌐 Tác động xã hội từ văn bản này

  • Tạo thuận lợi cho việc lãnh đạo các Tòa án nhân dân đặc biệt trong phong trào phát động quần chúng giảm tô và cải cách ruộng đất.
  • Đảm bảo công tác xét xử được tiến hành một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn.

❓ Câu hỏi thường gặp

Ủy ban hành chính tỉnh có quyền gì trong việc thành lập các phân toà?

Ủy ban hành chính tỉnh được phép lập các phân toà và chỉ định thêm số thẩm phán cho các phân toà khi cần thiết.

Các đại biểu nông dân tham gia phiên tòa có quyền hạn gì?

Các đại biểu nông dân được bầu ra có quyền hạn và nhiệm vụ như thẩm phán.

Toàn văn

SẮC LỆNH

CHỦ TỊCH PHỦ SỐ 233/SL

NGÀY 14 THÁNG 6 NĂM 1955

 

CHỦ TỊCH NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ

Theo đề nghị của Bộ Tư pháp và Uỷ ban cải cách ruộng đất trung ương,

Để tiện cho việc lãnh đạo các Toà án nhân dân đặc biệt trong phong trào phát động quần chúng giảm tô và cải cách ruộng đất,

RA SẮC LỆNH:

Điều 1: Nay sửa đổi điều 3 và điều 4 trong sắc lệnh số 150-SL ngày 12-4-1953 như sau:

"Điều 3: Thành lập Toà án nhân dân đặc biệt tỉnh ở những tỉnh có phát động quần chúng giảm tô hoặc cải cách ruộng đất. Toà án nhân dân đặc biệt tỉnh gồm 1 Chánh án, 2 Phó chánh án và từ đến 10 thẩm phán.

Việc thành lập Toà án nhân dân đặc biệt tỉnh do Uỷ ban hành chính tỉnh đề nghị và Uỷ ban hành chính liên khu duyệt y.

Tuỳ theo yêu cầu công tác phát động quần chúng, Uỷ ban hành chính tỉnh được phép lập các phân toà và chỉ định thêm số thẩm phán cho các phân toà".

"Điều 4: Khi phân toà đến xã nào xử thì lấy thêm 5 đại biểu nông dân của xã đó. Số đại biểu này do Hội nghị đại biểu nông dân xã bầu ra, và phải là bần cố trung nông; số bần cố nông phải nhiều hơn trung nông. Các đại biểu này có quyền hạn và nhiệm vụ của những thẩm phán.

Thẩm phán do Toà án tỉnh cử đến sẽ chủ toạ và điều khiển phiên toà".

Điều 2: Thủ tướng Chính phủ, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp, Bộ Công án và Uỷ ban cải cách ruộng đất trung ương thi hành sắc lệnh này.

 

 

Hồ Chí Minh

(Đã ký)

 

 

 

Văn bản này đang được cập nhật văn bản gốc, vui lòng xem nội dung toàn văn và kiểm tra lại sau.

Tải văn bản

Văn bản này đang được cập nhật văn bản gốc, vui lòng xem nội dung toàn văn và kiểm tra lại sau.

Bản đồ quan hệ

Chưa có lược đồ liên kết cho văn bản này.