Nghị quyết số 33/2021/QH15 Về tổ chức phiên tòa trực tuyến

Nghị quyết số 33/2021/QH15 quy định về việc tổ chức phiên tòa trực tuyến trong xét xử sơ thẩm và phúc thẩm các vụ án hình sự, dân sự, hành chính có tính chất đơn giản. Văn bản này áp dụng cho Tòa án nhân dân và các cơ quan liên quan.

Số hiệu33/2021/QH15
Loại văn bảnNghị quyết
Cơ quan ban hànhTòa Án Nhân Dân Tối Cao
Người kýVương Đình Huệ — Chủ tịch Quốc hội
Cập nhật14/06/2026
Lĩnh vựcChưa Phân Loại
Ngày ban hành12/11/2021
Ngày áp dụng01/01/2022
Ngày hết hiệu lực
Tình trạngCòn hiệu lực
✦ Tóm lược thông minh

Nghị quyết số 33/2021/QH15 quy định về việc tổ chức phiên tòa trực tuyến trong xét xử sơ thẩm và phúc thẩm các vụ án hình sự, dân sự, hành chính có tính chất đơn giản. Văn bản này áp dụng cho Tòa án nhân dân và các cơ quan liên quan.

Đối tượng áp dụng

Tòa án nhân dân; Viện kiểm sát nhân dân; Bộ Công an; Bộ Quốc phòng

Các điểm cốt lõi

  • Phiên tòa trực tuyến được tổ chức trong vụ án hình sự, dân sự, hành chính đơn giản (Điều 1).
  • Không áp dụng phiên tòa trực tuyến cho các vụ án liên quan đến bí mật nhà nước hoặc tội phạm nghiêm trọng về an ninh quốc gia và hòa bình (Điều 1)
  • Phiên tòa trực tuyến phải bảo đảm an ninh, an toàn thông tin mạng và điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật (Điều 1).
  • Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành hoặc chủ trì ban hành văn bản quy định chi tiết về tổ chức phiên tòa trực tuyến (Điều 3.1)
  • Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 01/01/2022

🌐 Tác động xã hội từ văn bản này

  • Tạo thuận lợi cho việc tham gia tố tụng của các đương sự, giảm chi phí đi lại.
  • Đảm bảo an ninh quốc gia và bí mật nhà nước trong một số trường hợp cụ thể.
  • Yêu cầu cơ sở vật chất kỹ thuật cao từ phía Tòa án.

❓ Câu hỏi thường gặp

Phiên tòa trực tuyến được áp dụng cho những vụ án nào?

Áp dụng cho các vụ án hình sự, dân sự, hành chính đơn giản và có tài liệu chứng cứ rõ ràng (Điều 1)

Các trường hợp nào không tổ chức phiên tòa trực tuyến?

Không áp dụng trong các vụ án liên quan đến bí mật nhà nước hoặc tội phạm nghiêm trọng về an ninh quốc gia và hòa bình (Điều 1)

Phiên tòa trực tuyến phải bảo đảm điều kiện gì?

Phải bảo đảm an ninh, an toàn thông tin mạng và các điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật (Điều 1)

Toàn văn

QUỐC HỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Nghị quyết số: 33/2021/QH15

NGHỊ QUYẾT
Về tổ chức phiên tòa trực tuyến

QUỐC HỘI

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Căn cứ Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13;
Căn cứ Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13;
Căn cứ Luật Tố tụng hành chính số 93/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 55/2019/QH14;
Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 80/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 63/2020/QH14;

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Phiên tòa trực tuyến

1. Tòa án nhân dân được tổ chức phiên tòa trực tuyến để xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự, dân sự, hành chính có tình tiết, tính chất đơn giản; tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án rõ ràng, trừ các trường hợp sau đây:

a) Vụ án hình sự, dân sự, hành chính liên quan đến bí mật nhà nước;

b) Vụ án hình sự về một trong các tội xâm phạm an ninh quốc gia quy định tại Chương XIII của Bộ luật Hình sự;

c) Vụ án hình sự về một trong các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh quy định tại Chương XXVI của Bộ luật Hình sự.

2. Phiên tòa trực tuyến là phiên tòa được tổ chức tại phòng xử án, có sử dụng các thiết bị điện tử kết nối với nhau thông qua môi trường mạng, cho phép bị cáo, bị hại, đương sự, người tham gia tố tụng khác tham gia phiên tòa tại địa điểm ngoài phòng xử án do Tòa án quyết định nhưng vẫn bảo đảm trực tiếp theo dõi đầy đủ hình ảnh, âm thanh và tham gia các trình tự, thủ tục tố tụng của phiên tòa bằng lời nói, hành vi tố tụng liên tục, công khai, vào cùng một thời điểm.

3. Việc tổ chức phiên tòa trực tuyến phải tuân thủ các quy định của pháp luật; bảo đảm an ninh, an toàn thông tin mạng và các điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật; bảo đảm sự tôn nghiêm của phiên tòa.

Điều 2. Hiệu lực thi hành

Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.

Điều 3. Tổ chức thực hiện

1. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao theo thẩm quyền ban hành hoặc chủ trì, phối hợp với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và thủ trưởng các cơ quan khác có liên quan ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Nghị quyết này.

2. Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm tổ chức thi hành Nghị quyết này. Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm báo cáo Quốc hội việc thực hiện Nghị quyết này trong báo cáo công tác hằng năm.

3. Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Ủy ban Tư pháp, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban khác của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, giám sát việc thực hiện Nghị quyết này.

Nghị quyết này được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 12 tháng 11 năm 2021. 

CHỦ TỊCH QUỐC HỘI
(Đã ký)
Vương Đình Huệ

Văn bản gốc (PDF)

Mở PDF trong tab mới ↗