Nghị định số 67/2001/NĐ-CP Ban hành các danh mục chất ma tuý và tiền chất

Nghị định số 67/2001/NĐ-CP quy định danh mục chất ma tuý và tiền chất, phân loại rõ ràng các chất ma tuý theo mức độ nguy hiểm và phạm vi sử dụng. Nghị định này nhằm kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng, quản lý, vận chuyển, bảo quản, mua bán, phân phối, xử lý các chất ma tuý.

Số hiệu67/2001/NĐ-CP
Loại văn bảnNghị định
Cơ quan ban hànhBộ Công An
Người kýPhan Văn Khải — Thủ tướng
Cập nhật01/07/2026
NgànhCông An, Y Tế, Công Thương
Lĩnh vựcHóa ChấtVật Liệu Nổ Công NghiệpThị Trường Trong Nước
Ngày ban hành01/10/2001
Ngày áp dụng16/10/2001
Ngày hết hiệu lực15/09/2013
Tình trạngHết hiệu lực
✦ Tóm lược thông minh

Nghị định số 67/2001/NĐ-CP quy định danh mục chất ma tuý và tiền chất, phân loại rõ ràng các chất ma tuý theo mức độ nguy hiểm và phạm vi sử dụng. Nghị định này nhằm kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng, quản lý, vận chuyển, bảo quản, mua bán, phân phối, xử lý các chất ma tuý.

Các điểm cốt lõi

  • Cơ quan, tổ chức, cá nhân → phải tuân thủ pháp luật về kiểm soát hoạt động liên quan đến ma túy khi sử dụng, nghiên cứu, giám định, sản xuất, vận chuyển, bảo quản, tàng trữ, mua bán, phân phối, xử lý, trao đổi, nhập khẩu, xuất khẩu, quá cảnh các chất trong danh mục quy định tại Điều 1.
  • Bộ Công an → có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xem xét và đề nghị sửa đổi, bổ sung danh mục chất ma tuý khi phát hiện chất mới hoặc cần thiết chuyển đổi các chất trong danh mục theo thông báo của Tổng thư ký Liên hợp quốc.
  • Nghị định này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký.
  • Các danh mục chất ma tuý được phân thành 4 loại: rất độc, độc hại, độc dược và hoá chất không thể thiếu trong quá trình điều chế, sản xuất ma túy.
  • Việc sử dụng các chất ma tuý trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm phải theo quy định đặc biệt của cơ quan có thẩm quyền.

🌐 Tác động xã hội từ văn bản này

  • Tác động tích cực: Giúp quản lý chặt chẽ và kiểm soát hiệu quả việc sử dụng các chất ma tuý, góp phần ngăn chặn tình trạng lạm dụng ma túy.
  • Tác động tiêu cực: Có thể gây khó khăn cho hoạt động nghiên cứu khoa học và điều trị y tế nếu không có quy định rõ ràng về phạm vi sử dụng.

❓ Câu hỏi thường gặp

Cơ quan nào chịu trách nhiệm quản lý các chất ma tuý theo Nghị định này?

Bộ Công an là cơ quan chủ trì, phối hợp với các Bộ Y tế, Công nghiệp và các cơ quan liên quan để quản lý các hoạt động liên quan đến ma túy.

Các chất ma tuý được phân loại như thế nào theo Nghị định này?

Các chất ma tuý được phân thành 4 danh mục: rất độc, độc hại, độc dược và hoá chất không thể thiếu trong quá trình điều chế, sản xuất ma túy.

Khi nào Nghị định này có hiệu lực?

Nghị định này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân cần tuân thủ những quy định gì khi sử dụng các chất ma tuý theo Nghị định này?

Các cơ quan, tổ chức, cá nhân phải tuân thủ pháp luật về kiểm soát hoạt động liên quan đến ma túy khi sử dụng, nghiên cứu, giám định, sản xuất, vận chuyển, bảo quản, tàng trữ, mua bán, phân phối, xử lý, trao đổi, nhập khẩu, xuất khẩu, quá cảnh các chất trong danh mục quy định tại Điều 1.

Bộ Công an có trách nhiệm gì khi phát hiện chất mới chưa có trong danh mục?

Khi phát hiện chất mới hoặc cần thiết chuyển đổi các chất trong danh mục theo thông báo của Tổng thư ký Liên hợp quốc, Bộ Công an có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xem xét và đề nghị Chính phủ sửa đổi, bổ sung danh mục.

Toàn văn

NGHỊ ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ

Ban hành các danh mục chất ma tuý và tiền chất

__________________

 

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;

Căn cứ Luật Phòng, chống ma tuý ngày 09 tháng 12 năm 2000;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Y tế và Bộ trưởng Bộ Công nghiệp,

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1. Nay ban hành kèm theo Nghị định này các danh mục chất ma tuý và tiền chất như sau:

Danh mục I: Các chất ma tuý rất độc, tuyệt đối cấm sử dụng; việc sử dụng các chất này trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm theo quy định đặc biệt của cơ quan có thẩm quyền;

Danh mục II: Các chất ma tuý độc hại, được dùng hạn chế trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế theo yêu cầu điều trị;

Danh mục III: Các chất ma tuý độc dược được dùng trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế theo yêu cầu điều trị;

Danh mục IV: Các hoá chất không thể thiếu trong quá trình điều chế, sản xuất ma túy.

Điều 2. Khi phát hiện chất mới chưa có trong các danh mục chất ma tuý và tiền chất ban hành kèm theo Nghị định này liên quan đến việc sản xuất, điều chế, sử dụng chất ma tuý hoặc cần thiết phải chuyển đổi các chất trong các danh mục theo thông báo của Tổng thư ký Liên hợp quốc thì Bộ Công an có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Bộ Y tế, Bộ Công nghiệp, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường và các cơ quan có liên quan xem xét, đề nghị Chính phủ sửa đổi, bổ sung các danh mục đó và công bố danh mục đã được sửa đổi, bổ sung.

Điều 3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân nghiên cứu, giám định, sản xuất, vận chuyển, bảo quản, tàng trữ, mua bán, phân phối, sử dụng, xử lý, trao đổi, nhập khẩu, xuất khẩu, quá cảnh các chất có trong các danh mục quy định tại Điều 1 của Nghị định này phải tuân thủ các quy định của pháp luật về kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy.

Điều 4. Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày ký.

Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch y ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.

Văn bản này đang được cập nhật văn bản gốc, vui lòng xem nội dung toàn văn và kiểm tra lại sau.

Tải văn bản

Văn bản này đang được cập nhật văn bản gốc, vui lòng xem nội dung toàn văn và kiểm tra lại sau.

Bản đồ quan hệ

↑ Cơ sở & văn bản tác động lên văn bản này
67/2001/NĐ-CP
Nghị định số 67/2001/NĐ-CP Ban hành các danh mục chất ma tuý và tiền chất
Hết hiệu lực

Bấm vào một văn bản để mở. Viền đỏ = quan hệ làm thay đổi hiệu lực.