Tìm kiếm văn bản thông minh, đa chiều
Tra cứu văn bản pháp luật Việt Nam
Pháp lệnh Dân số năm 2003 quy định về quản lý, tổ chức và thực hiện công tác dân số, bao gồm quy mô, cơ cấu, phân bố dân cư và chất lượng dân số. Nó áp dụng cho các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân Việt Nam. Pháp lệnh này nhấn mạnh vào việc nâng cao trách nhiệm của Nhà nước, cộng đồng và cá nhân trong việc thực hiện công tác dân số.
Pháp lệnh này quy định về tổ chức và hoạt động của Viện Kiểm sát quân sự nhằm bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa và an ninh quốc phòng trong Quân đội. Các viện kiểm sát quân sự thực hiện quyền công tố, kiểm sát điều tra, xét xử, thi hành án, tạm giữ, tạm giam, quản lý giáo dục người chấp hành án phạt tù. Pháp lệnh có hiệu lực từ 15/11/2002 và thay thế Pháp lệnh Tổ chức Viện Kiểm sát quân sự năm 1993.
Pháp lệnh số 04/2002/PL-UBTVQH11 quy định về tổ chức và hoạt động của các Tòa án quân sự, bao gồm thẩm quyền xét xử, cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán và Hội thẩm quân nhân. Pháp lệnh này có hiệu lực từ ngày 15 tháng 11 năm 2002.
Pháp lệnh này quy định về Thẩm phán và Hội thẩm Toà án nhân dân, bao gồm các quyền, nghĩa vụ, tiêu chuẩn tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, chế độ đối với Thẩm phán và Hội thẩm. Pháp lệnh thay thế Pháp lệnh cũ từ năm 1993.
Pháp lệnh quy định về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân, bao gồm tiêu chuẩn tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm và cách chức, quyền hạn, nghĩa vụ, chế độ đối với Kiểm sát viên.
Pháp lệnh số 01/2002/PL-UBTVQH11 sửa đổi Điều 22 và Điều 23 của Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng. Người có công giúp đỡ cách mạng được Nhà nước tặng Kỷ niệm chương 'Tổ quốc ghi công' hoặc Bằng 'Có công với nước', Huân chương kháng chiến, Huy chương kháng chiến sẽ nhận trợ cấp và chế độ ưu đãi khác.
Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính quy định về thẩm quyền, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính, các biện pháp khắc phục hậu quả, và các biện pháp giáo dục tại xã phường. Nó áp dụng cho cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm.
Pháp lệnh số 42/2002/PL-UBTVQH10 quy định về các biện pháp tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam, bao gồm tăng thuế nhập khẩu, áp dụng hạn ngạch nhập khẩu và các biện pháp khác. Pháp lệnh này nhằm bảo vệ ngành sản xuất trong nước trước tác động tiêu cực của việc nhập khẩu quá mức.
Pháp lệnh số 41/2002/PL-UBTVQH10 quy định về đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia trong thương mại quốc tế, áp dụng cho hàng hoá, dịch vụ, đầu tư và quyền sở hữu trí tuệ. Pháp lệnh này nhằm thống nhất quản lý nhà nước về đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia trên cơ sở bình đẳng và cùng có lợi.
Pháp lệnh này quy định về bưu chính và viễn thông, áp dụng cho tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài tại Việt Nam. Quy định các quyền, nghĩa vụ của doanh nghiệp, người sử dụng dịch vụ, quản lý tần số vô tuyến điện, giá cước, hợp tác quốc tế, và chế tài xử phạt.