Công văn số 1152-TC/TCT quy định cách tính thuế lợi tức đối với các tổ chức kinh tế trong nước tham gia liên doanh hoặc hợp tác kinh doanh với nước ngoài. Văn bản này nhằm đảm bảo sự đóng góp công bằng và tránh tình trạng nộp thuế trùng.
Đối tượng áp dụng
Tổ chức kinh tế trong nước tham gia liên doanh hoặc hợp tác kinh doanh với nước ngoài
Các điểm cốt lõi
- Các tổ chức kinh tế trong nước được chia lợi tức từ hoạt động liên doanh phải kê khai số lợi tức và không phải nộp thuế theo thuế suất áp dụng cho doanh nghiệp trong nước (Điểm 1).
- Tổ chức kinh tế trong nước có tư cách pháp nhân, hạch toán độc lập khi được chia lợi tức từ hoạt động liên doanh vẫn phải kê khai nhưng không cộng vào lợi tức phụ để tính thuế lần nữa (Điểm 2).
- Các tổ chức kinh tế tham gia hợp đồng liên doanh với nước ngoài phải kê khai và nộp thuế theo suất quy định trong Luật thuế lợi tức (Điểm 3).
- Trong trường hợp liên doanh giữa các tổ chức kinh tế trong nước, thuế lợi tức được tính trên toàn bộ kết quả tài chính và do đơn vị đứng ra giao dịch chịu trách nhiệm kê khai trước khi phân chia lợi tức (Điểm 4).
- Tổ chức kinh tế tham gia liên doanh phải khai báo với cơ quan thuế về số vốn góp, ngành nghề liên doanh và giữ sổ sách kế toán theo dõi hoạt động liên doanh (Điểm 5)
🌐 Tác động xã hội từ văn bản này
- Giúp đảm bảo công bằng trong đóng góp thuế giữa các tổ chức kinh tế tham gia liên doanh.
- Tránh tình trạng nộp thuế trùng đối với lợi tức từ hoạt động liên doanh.
- Tăng cường quản lý và giám sát hoạt động liên doanh của các tổ chức kinh tế.
❓ Câu hỏi thường gặp
Các tổ chức kinh tế trong nước được chia lợi tức từ hoạt động liên doanh phải kê khai như thế nào?
Phải kê khai số lợi tức và không phải nộp thuế theo thuế suất áp dụng cho doanh nghiệp trong nước.
Tổ chức kinh tế tham gia hợp đồng liên doanh với nước ngoài có phải nộp thuế lợi tức?
Có, phải kê khai và nộp thuế theo suất quy định trong Luật thuế lợi tức.
Trong trường hợp liên doanh giữa các tổ chức kinh tế trong nước, ai chịu trách nhiệm kê khai thuế lợi tức?
Đơn vị đứng ra giao dịch chịu trách nhiệm kê khai trước khi phân chia lợi tức.
Tổ chức kinh tế tham gia liên doanh phải thực hiện những nghĩa vụ gì với cơ quan thuế?
Phải khai báo về số vốn góp, ngành nghề liên doanh và giữ sổ sách kế toán theo dõi hoạt động liên doanh.
Văn bản này có hiệu lực từ khi nào?
Hiệu lực từ ngày 01/01/1991.
Toàn văn
CÔNG VĂN
CỦA BỘ TÀI CHÍNH SỐ 1152-TC/TCT NGÀY 22 THÁNG 8 NĂM 1991
VỀ VIỆC TÍNH THUẾ LỢI TỨC ĐỐI VỚI LIÊN DOANH
Căn cứ Luật thuế lợi tức được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khoá VIII.
Căn cứ Nghị định số 28-HĐBT ngày 22-3-1989 của HĐBT ban hành Điều lệ xí nghiệp liên doanh và Nghị định số 28-HĐBT ngày 6-2-1991 của HĐBT quy định chi tiết thi hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Để bảo đảm sự đóng góp công bằng giữa các tổ chức kinh tế có hoạt động liên doanh và tránh tinh thuế trùng, Bộ Tài chính hướng dẫn tính thuế lợi tức đối với các tổ chức kinh tế trong nước có lợi tức hoạt động liên doanh như sau:
1. Các tổ chức kinh tế góp vốn thành lập xi nghiệp liên doanh, theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, nếu được chia lợi tức từ hoạt động liên doanh phải kê khai số lợi tức được chia và không phải nộp thuế lợi tức theo thuế suất áp dụng đối với doanh nghiệp trong nước.
2. Đối với các tổ chức kinh tế trong nước góp vốn, thành lập xi nghiệp liên doanh có tư cách pháp nhân, hạch toán kinh tế độc lập, nếu được chia lợi tức từ hoạt động liên doanh vẫn phải kê khai, nhưng không coi là lợi tức phụ, không phải cộng vào lợi tức chịu thuế của đơn vị để tính thuế lần nữa .
3. Đối với các tổ chức kinh tế liên doanh với nước ngoài theo hợp đồng.
Theo quy định tại điểm a Điều 19 Nghị định số 28-HĐBT ngày 6-2-1991 của HĐBT quy định chi tiết thi hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thì: Lợi tức được chia phải kê khai, nộp thuế lợi tức theo Luật thuế áp dụng đối với doanh nghiệp trong nước,
Vì vậy, các tổ chức kinh tế trong nước có hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng với nước ngoài phải kê khai và nộp thuế lợi tức theo suất quy định trong luật thuế lợi tức.
4. Trường hợp các tổ chức kinh tế trong nước liên doanh với nhau trên cơ sở hợp đông thì thuế lợi tức được tính trên toàn bộ kết quả Tài chính và do đơn vị đứng ra lấy danh nghĩa giao dịch (dấu, tài khoản...)chịu trách nhiệm kê khai và nộp cho cơ quan thuế Sở tại trước khi phân chia lợi tức.
Sau khi đã nộp thuế lợi tức, tổ chức kinh tế được chia lợi tức liên doanh vẫn phải kê khai với cơ quan thuế nhưng không coi là lợi tức phụ để tính thuế lợi tức của cả đơn vị.
5. Tổ chức kinh tế có tham gia các hoạt động liên doanh phải khai báo với cơ quan thuế về số vốn góp liên doanh, ngành nghề liên doanh, mở và giữ sổ sách kế toán theo dõi các hoạt động kinh tế liên quan đến hoạt động liên doanh phải xuất trình những sổ sách, tài liệu liên quan khi cơ quan thuế yêu cầu.
Những quy định này được thi hành từ 1-1-1991.
Trong quá trình thực hiện, nếu vướng mắc thì phản ánh về Bộ Tài chính để nghiên cứu, hướng dẫn thêm.
Bản đồ quan hệ
Bấm vào một văn bản để mở. Viền đỏ = quan hệ làm thay đổi hiệu lực.
Bản dịch
Văn bản này có sẵn ở các ngôn ngữ sau: