Quyết định 137/1998/QĐ-TTg quy định về quản lý lương thực dự trữ quốc gia, bao gồm mục đích, cơ cấu, kế hoạch, mua bán, xuất khẩu và trách nhiệm của các bên liên quan. Quyết định này nhằm bảo đảm an toàn lương thực quốc gia và tăng cường công tác quản lý dự trữ.
Đối tượng áp dụng
Cục Dự trữ quốc gia; Bộ, ngành có liên quan; ngân sách Nhà nước; tổ chức, cá nhân trong ngành dự trữ.
Các điểm cốt lõi
- Cục Dự trữ quốc gia trực tiếp quản lý lương thực dự trữ quốc gia và phối hợp với các Bộ, ngành để trình Thủ tướng Chính phủ quyết định kế hoạch dự trữ hàng năm.
- Cục Dự trữ quốc gia phải đảm bảo số lượng lương thực dự trữ trong kho đạt mức quy định và chịu trách nhiệm về việc luân phiên đổi hàng.
- Khi cần thiết, Thủ tướng Chính phủ có quyền quyết định nhập hoặc xuất lương thực ngoài kế hoạch đã được phê duyệt.
- Việc mua, bán lương thực dự trữ quốc gia thực hiện theo quy chế đấu thầu; trong trường hợp đặc biệt, giá mua và bán do Ban Vật giá Chính phủ quy định.
- Kho chứa lương thực dự trữ quốc gia phải bố trí phù hợp với quy hoạch ở các địa bàn chiến lược, có hệ thống bảo vệ và phòng chống thiên tai.
🌐 Tác động xã hội từ văn bản này
- Tác động tích cực: Bảo đảm an ninh lương thực quốc gia; tăng cường công tác quản lý dự trữ.
- Tác động tiêu cực: Chi phí ngân sách Nhà nước cho việc mua bù số lương thực đã xuất không thu tiền.
❓ Câu hỏi thường gặp
Cục Dự trữ quốc gia có trách nhiệm gì?
Cục Dự trữ quốc gia trực tiếp quản lý lương thực dự trữ quốc gia, phối hợp với các Bộ, ngành để trình Thủ tướng Chính phủ quyết định kế hoạch dự trữ hàng năm và đảm bảo số lượng lương thực dự trữ trong kho đạt mức quy định.
Thủ tướng Chính phủ có quyền làm gì?
Thủ tướng Chính phủ có quyền quyết định nhập hoặc xuất lương thực ngoài kế hoạch đã được phê duyệt khi cần thiết để can thiệp thị trường, bảo đảm quyền lợi của người sản xuất và người tiêu dùng.
Việc mua bán lương thực dự trữ quốc gia như thế nào?
Việc mua, bán lương thực dự trữ quốc gia thực hiện theo quy chế đấu thầu; trong trường hợp đặc biệt, giá mua và bán do Ban Vật giá Chính phủ quy định.
Cục Dự trữ quốc gia có trách nhiệm bồi thường khi nào?
Nếu tổ chức, cá nhân trong ngành dự trữ gây hao hụt quá định mức hoặc để thất thoát trong bảo quản lương thực, thì phải bồi thường vật chất tương ứng với số lương thực bị thiệt hại. Nếu gây thiệt hại nghiêm trọng, ngoài việc bồi thường vật chất còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Cục Dự trữ quốc gia có quyền xuất khẩu lương thực dự trữ quốc gia khi nào?
Khi xuất bán lương thực dự trữ quốc gia mà trong nước không có nhu cầu mua, Cục Dự trữ quốc gia được phép xuất khẩu theo quy định chung của Nhà nước.
Toàn văn
QUYẾT ĐỊNH CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Về việc quản lý lương thực dự trữ quốc gia
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Căn cứ Quy chế quản lý dự trữ quốc gia ban hành kèm theo Nghị định số 10/CP ngày 24 tháng 2 năm 1996 của Chính phủ;
Để bảo đảm an toàn lương thực quốc gia và tăng cường công tác quản lý lương thực dự trữ quốc gia;
Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Dự trữ quốc gia,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Lương thực dự trữ quốc gia là lượng thóc, gạo của Nhà nước được bảo quản có đủ tiêu chuẩn chất lượng theo quy định để sử dụng vào mục đích: an toàn lương thực quốc gia; phòng ngừa, khắc phục hậu quả thiên tai; phục vụ an ninh, quốc phòng và các yêu cầu khác của Chính phủ.
Cục Dự trữ quốc gia trực tiếp quản lý lượng lương thực dự trữ này.
Điều 2. Quản lý lương thực dự trữ quốc gia được thực hiện theo các quy định trong Quyết định này và theo Quy chế quản lý dự trữ quốc gia ban hành kèm theo Nghị định số 10/CP ngày 24 tháng 2 năm 1996 của Chính phủ.
Điều 3. Căn cứ vào tình hình sản xuất, tiêu dùng lương thực, mục tiêu an toàn lương thực quốc gia, thời hạn lưu kho và quy trình công nghệ bảo quản, hàng năm Cục Dự trữ quốc gia phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan trình Thủ tướng Chính phủ quyết định các chỉ tiêu kế hoạch về lương thực dự trữ quốc gia:
Tổng mức dự trữ; Cơ cấu (thóc, gạo); Tổng lượng mua vào (bao gồm mua tăng dự trữ và mua đổi hàng); Tổng lượng bán ra (bao gồm xuất bán giảm dự trữ và bán đổi hàng); Vốn ngân sách cấp.
Điều 4. Căn cứ kế hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Cục Dự trữ quốc gia phải đảm bảo số lượng lương thực dự trữ thường xuyên trong kho đạt mức dự trữ do Thủ tướng Chính phủ quy định; quyết định và chịu trách nhiệm về việc luân phiên đổi hàng lương thực dự trữ quốc gia. Trong thời gian luân phiên đổi hàng thì số lượng lương thực dự trữ trong kho không được thấp hơn 60% tổng mức quy định.
Điều 5. Khi cần thiết, để can thiệp thị trường lương thực, bảo đảm quyền lợi của người sản xuất, người tiêu dùng lương thực và yêu cầu khác, Thủ tướng Chính phủ quyết định việc nhập hoặc xuất lương thực ngoài kế hoạch đã được phê duyệt hàng năm.
Điều 6. Việc mua, bán lương thực dự trữ quốc gia thực hiện theo quy chế đấu thầu. Trường hợp đặc biệt tổ chức Dự trữ quốc gia phải mua lẻ của nông dân và bán lẻ cho người tiêu dùng thì trên cơ sở giá mua (giá trần), giá bán (giá sàn) do Ban Vật giá Chính phủ quy định, Cục Dự trữ quốc gia chỉ đạo các Chi cục Dự trữ chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính - Vật giá địa phương quyết định giá mua, giá bán sát với giá thị trường tại thời điểm mua, bán ở từng khu vực trong khung giá quy định.
Điều 7. Khi xuất bán lương thực dự trữ quốc gia mà trong nước không có nhu cầu mua, Cục Dự trữ quốc gia được phép xuất khẩu theo quy định chung của Nhà nước.
Điều 8. Sau khi đã thỏa thuận với các cơ quan liên quan, Cục Dự trữ quốc gia xây dựng và ban hành tiêu chuẩn chất lượng, quy trình, quy phạm bảo quản và thời hạn lưu kho lương thực dự trữ quốc gia theo thẩm quyền.
Điều 9. Kho chứa lương thực dự trữ quốc gia phải bố trí, phù hợp với quy hoạch ở các địa bàn chiến lược do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, ở từng địa bàn bố trí kho, hệ thống kho phải tập trung, có sân phơi, tường rào bảo vệ và các thiết bị phơi sấy, bảo quản..., hệ thống bảo đảm an toàn và các biện pháp phòng, chống thiên tai; phòng, chống cháy; ngăn ngừa các hành vi xâm hại khác.
Cục Dự trữ quốc gia căn cứ vào mục tiêu dự trữ lương thực, các điều kiện thực tế về khí hậu ở từng vùng, về kho tàng, thiết bị bảo quản, đặc tính từng loại lương thực dự trữ để nghiên cứu xây dựng các vùng kho với quy mô thích hợp, tập trung, lựa chọn ứng dụng công nghệ bảo quản tiên tiến, nhằm giữ được phẩm cấp chất lượng lương thực lâu dài hơn so với hiện nay.
Điều 10. Hàng năm ngân sách Nhà nước cân đối để:
Tăng lương thực dự trữ hoặc mua bù số lương thực đã xuất không thu tiền theo lệnh của
Điều 11. Đối với vốn ngân sách Nhà nước cấp cho mua lương thực dự trữ quốc gia theo dự toán, nếu giá mua giảm so với kế hoạch thì ngân sách Nhà nước chỉ cấp theo mức khối lượng lương thực dự trữ mà Thủ tướng Chính phủ đã quyết định. Trường hợp do giá mua tăng, ngân sách Nhà nước cấp theo dự toán không mua đủ số lượng lương thực dự trữ đã được giao thì Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì cùng Bộ Tài chính và Cục Dự trữ quốc gia trình Thủ tướng Chính phủ quyết định.
Điều 12. Các tổ chức, cá nhân trong ngành dự trữ được giao nhiệm vụ quản lý lương thực dự trữ quốc gia, do thiếu tinh thần trách nhiệm hoặc không thực hiện đúng các quy định của Nhà nước về mua, bán lương thực, gây hao hụt quá định mức hoặc để thất thoát trong bảo quản lương thực, thì phải bồi thường vật chất tương ứng với số lương thực bị thiệt hại. Nếu gây thiệt hại nghiêm trọng thì ngoài việc bồi thường vật chất, còn phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Điều 13. Cục trưởng Cục Dự trữ quốc gia và các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm hướng dẫn, chỉ đạo và tổ chức thực hiện Quyết định này.
Điều 14. Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký.
Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
PHÓ THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Tải văn bản
Văn bản này đang được cập nhật văn bản gốc, vui lòng xem nội dung toàn văn và kiểm tra lại sau.
Bản đồ quan hệ
Bấm vào một văn bản để mở. Viền đỏ = quan hệ làm thay đổi hiệu lực.
Bản dịch
Văn bản này có sẵn ở các ngôn ngữ sau: