Thông tư này quy định cách xác định thu nhập chịu thuế đối với chênh lệch tỷ giá của các khoản nợ phải trả bằng ngoại tệ, áp dụng cho doanh nghiệp có hoạt động sản xuất kinh doanh. Các khoản lỗ/lãi chênh lệch tỷ giá được tính vào chi phí/thu nhập khi xác định thu nhập chịu thuế.
Đối tượng áp dụng
Các tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế theo quy định của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (được gọi là doanh nghiệp).
Các điểm cốt lõi
- Doanh nghiệp áp dụng đối với các khoản nợ phải trả bằng ngoại tệ để xác định chênh lệch tỷ giá trong kỳ và đánh giá lại cuối năm tài chính.
- Các khoản lỗ/lãi chênh lệch tỷ giá được tính vào chi phí/thu nhập khi xác định thu nhập chịu thuế doanh nghiệp.
- Trường hợp chênh lệch tỷ giá do đánh giá lại các khoản nợ phải trả bằng ngoại tệ tính vào chi phí làm cho kết quả kinh doanh bị lỗ, có thể phân bổ một phần chênh lệch tỷ giá cho năm sau nhưng phải đảm bảo phần chênh lệch tỷ giá tính vào chi phí trong năm ít nhất cũng phải bằng chênh lệch tỷ giá của số ngoại tệ đến hạn phải trả trong năm đó.
- Thông tư này có hiệu lực từ kỳ tính thuế năm 2009 và áp dụng cho các doanh nghiệp có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ.
🌐 Tác động xã hội từ văn bản này
- Tác động tích cực: Giúp doanh nghiệp quản lý rủi ro tỷ giá hiệu quả hơn, giảm gánh nặng về tài chính.
- Tác động tiêu cực: Có thể làm phức tạp hóa quy trình kế toán và báo cáo thuế cho doanh nghiệp.
❓ Câu hỏi thường gặp
Các khoản nợ phải trả bằng ngoại tệ được áp dụng như thế nào?
Các khoản nợ phải trả bằng ngoại tệ của doanh nghiệp cần xác định chênh lệch tỷ giá trong kỳ và đánh giá lại cuối năm tài chính.
Các khoản lỗ/lãi chênh lệch tỷ giá được tính vào chi phí/thu nhập khi nào?
Các khoản lỗ/lãi chênh lệch tỷ giá phát sinh trong kỳ và do đánh giá lại cuối năm tài chính được tính vào chi phí hoặc thu nhập khi xác định thu nhập chịu thuế doanh nghiệp.
Trường hợp chênh lệch tỷ giá do đánh giá lại các khoản nợ phải trả bằng ngoại tệ tính vào chi phí làm cho kết quả kinh doanh bị lỗ, có thể phân bổ một phần chênh lệch tỷ giá cho năm sau không?
Có thể phân bổ một phần chênh lệch tỷ giá cho năm sau nhưng phải đảm bảo phần chênh lệch tỷ giá tính vào chi phí trong năm ít nhất cũng phải bằng chênh lệch tỷ giá của số ngoại tệ đến hạn phải trả trong năm đó.
Thông tư này có hiệu lực từ khi nào?
Thông tư này có hiệu lực từ kỳ tính thuế năm 2009 và áp dụng cho các doanh nghiệp có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ.
Nếu có thay đổi trong Hiệp định hoặc Điều ước quốc tế về xử lý chênh lệch tỷ giá của các khoản nợ phải trả có gốc ngoại tệ, thì làm thế nào?
Trường hợp nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam có tham gia ký kết Hiệp định hoặc Điều ước quốc tế mà Hiệp định hoặc Điều ước quốc tế đó có quy định về xử lý chênh lệch tỷ giá của các khoản nợ phải trả có gốc ngoại tệ khác với nội dung hướng dẫn tại Thông tư này thì thực hiện theo quy định của Điều ước quốc tế đó.
Toàn văn
THÔNG TƯ
Hướng dẫn xác định thu nhập chịu thuế đối vớichênh lệch tỷ giá của các khoản nợ phải trả bằng ngoại tệ
________________________________________
Căn cứ Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 ngày 03 tháng 6 năm 2008;
Căn cứ Nghị định số 124/2008/NĐ-CP ngày 11 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp;
Căn cứ Nghị định số 09/2009/NĐ-CP ngày 5/2/2009 của Chính phủ quy định về Quy chế quản lý tài chính của công ty Nhà nước và quản lý vốn Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác;
Căn cứ Nghị định số 118/2008/NĐ-CP ngày 27/11/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;
Thực hiện ý kiến của Thủ tướng Chính phủ tại công văn số 2225/VPCP-KTTH ngày 9/4/2009 của Văn phòng Chính phủ về việc xử lý chênh lệch tỷ giá ngoại tệ, Bộ Tài chính hướng dẫn cụ thể việc xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp đối với khoản chênh lệch tỷ giá của các khoản nợ phải trả bằng ngoại tệ như sau:
Điều 1. Đối tượng, phạm vi áp dụng.
1. Đối tượng áp dụng là các tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có thu nhập chịu thuế theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp (sau đây gọi là doanh nghiệp).
2. Phạm vi áp dụng là chênh lệch tỷ giá của các khoản nợ phải trả có gốc ngoại tệ của doanh nghiệp.
Điều 2. Căn cứ tính thuế.
Các doanh nghiệp có các khoản nợ phải trả bằng ngoại tệ thì các khoản lỗ, lãi chênh lệch tỷ giá phát sinh trong kỳ và lỗ, lãi chênh lệch tỷ giá do đánh giá lại các khoản nợ phải trả bằng ngoại tệ cuối năm tài chính được tính vào chi phí hoặc thu nhập khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp trong kỳ. Trường hợp chênh lệch tỷ giá do đánh giá lại các khoản nợ phải trả bằng ngoại tệ tính vào chi phí làm cho kết quả kinh doanh của doanh nghiệp bị lỗ thì có thể phân bổ một phần chênh lệch tỷ giá cho năm sau để doanh nghiệp không bị lỗ nhưng phải đảm bảo phần chênh lệch tỷ giá tính vào chi phí trong năm ít nhất cũng phải bằng chênh lệch tỷ giá của số ngoại tệ đến hạn phải trả trong năm đó.
Điều 3. Tổ chức thực hiện.
1. Thông tư này có hiệu lực sau 45 ngày kể từ ngày ký và áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2009.
2. Các nội dung không hướng dẫn tại Thông tư này và các nội dung không trái với hướng dẫn tại Thông tư này được thực hiện theo quy định tại Thông tư số 130/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp và hướng dẫn thi hành Nghị định số 124/2008/NĐ-CP ngày 11/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp.
Trường hợp nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam có tham gia ký kết Hiệp định hoặc Điều ước quốc tế mà Hiệp định hoặc Điều ước quốc tế đó có quy định về xử lý chênh lệch tỷ giá của các khoản nợ phải trả có gốc ngoại tệ khác với nội dung hướng dẫn tại Thông tư này thì thực hiện theo quy định của Điều ước quốc tế đó.
Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc, đề nghị các đơn vị phản ánh về Bộ Tài chính để được hướng dẫn giải quyết kịp thời./.
THỨ TRƯỞNG
Văn bản gốc (PDF)
Bản đồ quan hệ
Bấm vào một văn bản để mở. Viền đỏ = quan hệ làm thay đổi hiệu lực.
Bản dịch
Văn bản này có sẵn ở các ngôn ngữ sau: