Quyết định số 196/TTg Về việc sử dụng các dữ liệu thông tin trên vật mang tin để làm chứng từ kế toán và thanh toán của các ngân hàng và tổ chức tín dụng

Quyết định số 196/TTg quy định về việc sử dụng các dữ liệu thông tin trên vật mang tin như băng từ, đĩa từ và thẻ thanh toán (chứng từ điện tử) để làm chứng từ kế toán và thanh toán của Ngân hàng và tổ chức tín dụng. Quyết định này nhằm hiện đại hóa công nghệ trong ngành ngân hàng và bảo đảm tính pháp lý cũng như an toàn thông tin cho các chứng từ điện tử.

Số hiệu196/TTg
Loại văn bảnQuyết định
Cơ quan ban hànhNgân Hàng Nhà Nước Việt Nam
Người kýPhan Văn Khải — Phó Thủ tướng
Cập nhật02/07/2026
Lĩnh vựcChưa Phân Loại
Ngày ban hành01/04/1997
Ngày áp dụng16/04/1997
Ngày hết hiệu lực
Tình trạngCòn hiệu lực
✦ Tóm lược thông minh

Quyết định số 196/TTg quy định về việc sử dụng các dữ liệu thông tin trên vật mang tin như băng từ, đĩa từ và thẻ thanh toán (chứng từ điện tử) để làm chứng từ kế toán và thanh toán của Ngân hàng và tổ chức tín dụng. Quyết định này nhằm hiện đại hóa công nghệ trong ngành ngân hàng và bảo đảm tính pháp lý cũng như an toàn thông tin cho các chứng từ điện tử.

Đối tượng áp dụng

Ngân hàng và tổ chức tín dụng

Các điểm cốt lõi

  • Cho phép sử dụng các dữ liệu thông tin trên vật mang tin (băng từ, đĩa từ, thẻ thanh toán) để làm chứng từ kế toán và thanh toán của Ngân hàng và tổ chức tín dụng.
  • Các chứng từ điện tử phải có đầy đủ yếu tố pháp lý như chứng từ giấy, với yếu tố dấu và chữ ký được mã hóa bằng ký hiệu mật. Yếu tố bảo mật cũng cần đảm bảo trong quá trình xử lý, truyền tin và lưu trữ.
  • Ngân hàng và tổ chức tín dụng có trách nhiệm lập, xử lý, sử dụng chứng từ điện tử theo quy định pháp luật, bảo mật dữ liệu thông tin trên vật mang tin, trang bị phương tiện kỹ thuật để khai thác, xử lý, sử dụng chứng từ điện tử.
  • Khi được thanh tra, kiểm tra, Ngân hàng và tổ chức tín dụng phải cung cấp chứng từ điện tử và hướng dẫn việc sử dụng các thiết bị có liên quan cho yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
  • Các chứng từ điện tử đã sử dụng để hạch toán kế toán và thanh toán phải được in ra giấy dưới dạng bảng kê chứng từ, báo biểu kế toán để bảo quản, lưu trữ. Trên từng bảng kê chứng từ, báo biểu kế toán sau khi in ra phải được kiểm soát, ký xác nhận và đóng dấu.

🌐 Tác động xã hội từ văn bản này

  • Giảm chi phí in ấn giấy cho Ngân hàng và tổ chức tín dụng.
  • Tăng cường bảo mật thông tin và an toàn trong quá trình xử lý, truyền tin, lưu trữ chứng từ kế toán và thanh toán.
  • Phù hợp với xu hướng hiện đại hóa công nghệ ngân hàng.

❓ Câu hỏi thường gặp

Các Ngân hàng và tổ chức tín dụng được sử dụng những loại vật mang tin nào?

Ngân hàng và tổ chức tín dụng được sử dụng các dữ liệu thông tin trên vật mang tin như băng từ, đĩa từ và thẻ thanh toán (chung gọi là chứng từ điện tử).

Các chứng từ điện tử cần có những yếu tố pháp lý gì?

Các chứng từ điện tử phải có đầy đủ các yếu tố đảm bảo tính pháp lý như chứng từ kế toán bằng giấy, với yếu tố dấu và chữ ký được mã hóa bằng ký hiệu mật.

Ngân hàng và tổ chức tín dụng cần thực hiện những trách nhiệm gì khi sử dụng chứng từ điện tử?

Ngân hàng và tổ chức tín dụng có trách nhiệm lập, xử lý, sử dụng chứng từ điện tử theo quy định pháp luật; bảo mật dữ liệu thông tin trên vật mang tin; trang bị phương tiện kỹ thuật để khai thác, xử lý, sử dụng chứng từ điện tử.

Khi nào các chứng từ điện tử được in ra giấy?

Các chứng từ điện tử đã sử dụng để hạch toán kế toán và thanh toán phải được in ra giấy dưới dạng bảng kê chứng từ, báo biểu kế toán để bảo quản, lưu trữ.

Thời hạn bảo quản chứng từ tài liệu kế toán của các chứng từ điện tử là bao lâu?

Chứng từ điện tử được lưu trữ theo thời hạn bảo quản chứng từ tài liệu kế toán do Nhà nước quy định.

Toàn văn

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 196-TTg

Hà Nội, ngày 01 tháng 4 năm 1997

 

QUYẾT ĐỊNH

Về việc sử dụng các dữ liệu thông tin trên vật mang tin
để làm chứng từ kế toán và thanh toán của Ngân hàng và tổ chức tín dụng

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Căn cứ Pháp lệnh Kế toán và Thống kê ngày 10 tháng 5 năm 1988;
Để phù hợp với yêu cầu hiện đại hoá Công nghệ Ngân hàng và tổ chức tín dụng;
Xét đề nghị của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Cho phép sử dụng các dữ liệu thông tin trên vật mang tin như băng từ, đĩa từ các loại thẻ thanh toán (sau đây gọi chung là chứng từ điện tử) để làm chứng từ kế toán và thanh toán của các Ngân hàng và tổ chức tín dụng.

Điều 2. Các chứng từ điện tử phải có đầy đủ các yếu tố đảm bảo tính Pháp lý như chứng từ kế toán bằng giấy, riêng yếu tố dấu và chữ ký được mã hoá bằng ký hiệu mật, và phải có yếu tố bảo mật, bảo đảm an toàn trong quá trình xử lý, truyền tin, lưu trữ.

Điều 3. Các Ngân hàng và Tổ chức tín dụng sử dụng chứng từ điện tử có trách nhiệm:

Thực hiện lập, xử lý, sử dụng chứng từ điện tử để hạch toán kế toán và thanh toán theo đúng quy định của Pháp luật.

Bảo mật và bảo toàn các dữ liệu thông tin về chứng từ trên vật mang tin trong quá trình sử dụng và lưu trữ.

Phải trang bị phương tiện kỹ thuật (bao gồm cả hệ thống dự phòng) để khai thác, xử lý, sử dụng chứng từ điện tử; quản lý, kiểm tra chặt chẽ nhằm ngăn ngừa và chống các hình thức lợi dụng: khai thác, xâm nhập, sao chép, đánh cắp hoặc sử dụng chứng từ điện tử vào các việc trái với quy định về bảo mật, cung cấp thông tin số liệu Ngân hàng.

Điều 4. Các Ngân hàng, Tổ chức tín dụng khi được thanh tra, kiểm tra phải có trách nhiệm cung cấp chứng từ điện tử và hướng dẫn việc sử dụng các thiết bị có liên quan cho yêu cầu thanh tra, kiểm tra của các cơ quan có thẩm quyền.

Điều 5. Các chứng từ điện tử đã sử dụng để hạch toán kế toán và thanh toán phải được in ra giấy dưới dạng bảng kê chứng từ, báo biểu kế toán để bảo quản, lưu trữ. Trên từng bảng kê chứng từ, báo biểu kế toán sau khi in ra phải được kế toán trưởng, Tổng Giám đốc, Giám đốc Ngân hàng, Tổ chức tín dụng (hoặc người được uỷ quyền) kiểm soát, ký xác nhận và đóng dấu.

Chứng từ điện tử được lưu trữ theo thời hạn bảo quản chứng từ tài liệu kế toán do Nhà nước quy định.

Điều 6. Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký.

Điều 7. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chịu trách nhiệm ban hành quy chế lập, xử lý, sử dụng, bảo quản lưu trữ chứng từ điện tử và tổ chức thực hiện Quyết định này.

Điều 8. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành quyết định này./.

 

 

Phan Văn Khải

(Đã ký)

Văn bản này đang được cập nhật văn bản gốc, vui lòng xem nội dung toàn văn và kiểm tra lại sau.

Tải văn bản

Văn bản này đang được cập nhật văn bản gốc, vui lòng xem nội dung toàn văn và kiểm tra lại sau.

Bản đồ quan hệ

196/TTg
Quyết định số 196/TTg Về việc sử dụng các dữ liệu thông tin trên vật mang tin để làm chứng từ kế toán và thanh toán của các ngân hàng và tổ chức tín dụng
Còn hiệu lực
↓ Văn bản chịu tác động từ văn bản này
Liên quan 6
212/2002/QĐ-NHNN Quyết định số 212/2002/QĐ-NHNN Về việc ban hành Quy trình kỹ thuật nghiệp vụ thanh toán bù trừ điện tử liên Ngân hàng. Còn hiệu lực 1557/2001/QĐ-NHNN Quyết định số 1557/2001/QĐ-NHNN Về việc ban hành Quy chế thanh toán bù trừ điện tử liên Ngân hàng Còn hiệu lực

Bấm vào một văn bản để mở. Viền đỏ = quan hệ làm thay đổi hiệu lực.