Sắc lệnh số 202 Về việc quy định việc buôn bán vàng bạc

Sắc lệnh số 202 quy định về việc buôn bán vàng bạc trong nước, cấm xuất khẩu vàng bạc không được phép, giới hạn trọng lượng khi chuyên chở từ địa hạt này sang địa hạt khác và yêu cầu nhà buôn phải có giấy phép. Vi phạm sẽ bị phạt tiền hoặc tù giam.

Số hiệu202
Loại văn bảnSắc lệnh
Cơ quan ban hànhTài Khoản Trung Ương
Người kýHuỳnh Thúc Kháng — Bộ trưởng
Cập nhật18/06/2026
Lĩnh vựcChưa Phân Loại
Ngày ban hành15/10/1946
Ngày áp dụng30/10/1946
Ngày hết hiệu lực
Tình trạngHết hiệu lực
✦ Tóm lược thông minh

Sắc lệnh số 202 quy định về việc buôn bán vàng bạc trong nước, cấm xuất khẩu vàng bạc không được phép, giới hạn trọng lượng khi chuyên chở từ địa hạt này sang địa hạt khác và yêu cầu nhà buôn phải có giấy phép. Vi phạm sẽ bị phạt tiền hoặc tù giam.

Đối tượng áp dụng

Nhà buôn, người chuyên chở vàng bạc

Các điểm cốt lõi

  • Cấm xuất khẩu vàng bạc không được Bộ trưởng Bộ Tài chính cho phép (Điều 1 và Điều 6).
  • Chuyên chở vàng bạc từ địa hạt này sang địa hạt khác phải xin phép Ủy ban hành chính tỉnh, thị xã hay thành phố (Điều 2 và Điều 7).
  • Nhà buôn được phép mua bán vàng bạc phải có giấy phép của Ủy ban hành chính tỉnh, thị xã hay thành phố (Điều 3).
  • Nhà buôn phải giữ sổ sách ghi chép việc mua bán vàng bạc theo mẫu quy định (Điều 4).
  • Vi phạm sẽ bị phạt tiền gấp ba giá trị số vàng bạc gian lậu và/hoặc tù từ một tháng đến năm năm tùy mức độ vi phạm (Điều 5 và Điều 8)

🌐 Tác động xã hội từ văn bản này

  • Giảm thiểu tình trạng buôn bán vàng bạc trái phép, ổn định thị trường.
  • Tăng gánh nặng thủ tục hành chính cho nhà buôn và người chuyên chở.
  • Người dân có thể bị hạn chế trong việc chuyển đổi vàng bạc từ địa phương này sang địa phương khác.

❓ Câu hỏi thường gặp

Việc xuất khẩu vàng bạc cần phải xin phép Bộ trưởng Bộ Tài chính?

Đúng, việc xuất khẩu vàng bạc không được phép nếu không có sự đồng ý của Bộ trưởng Bộ Tài chính (Điều 1 và Điều 6).

Mức phạt khi vi phạm quy định về buôn bán vàng bạc là bao nhiêu?

Vi phạm sẽ bị phạt tiền gấp ba giá trị số vàng bạc gian lậu và/hoặc tù từ một tháng đến năm năm tùy mức độ vi phạm (Điều 5 và Điều 8).

Những nhà buôn được phép mua bán vàng bạc phải làm gì?

Nhà buôn được phép mua bán vàng bạc phải có giấy phép của Ủy ban hành chính tỉnh, thị xã hay thành phố (Điều 3) và giữ sổ sách ghi chép việc mua bán theo mẫu quy định (Điều 4).

Có giới hạn trọng lượng khi chuyên chở vàng bạc không?

Có, chỉ được chuyên chở một số đồ vàng bạc trang sức hay mỹ thuật không quá một lạng tây (100 grammes) hoặc một cân (1 kilogammes) tùy loại. Quá số đó phải xin phép Ủy ban hành chính tỉnh, thị xã hay thành phố mình ở (Điều 2 và Điều 7).

Việc mua bán bạc quá giá do pháp luật đã định có bị cấm?

Có, việc mua bán, định mua bán hay dạm mau bán tiền tệ trong nước bằng bạc quá giá do pháp luật đã định bị cấm (Điều 6).

Toàn văn

 

 

 

 

SẮC LỆNH

Quy định việc buôn bán vàng bạc 

 Chủ tịch chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa

Xét tình thế hiện thời trong nước;

Chiểu chi lời đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính;

Sau khi đã hỏi ý kiến Ban thường trực Quốc hội và Hội đồng Chính phủ đã thoả hiệp,

Ra sắc lệnh:

Tiết thứ nhất việc buôn bán vàng

Điều thứ nhất

Nay cấm hẳn việc xuất cảng vàng nếu không được Bộ trưởng Bộ Tài chính cho phép.

Việc mối lái, tập trung vàng có mục đích lũng loạn hoặc bán cho người ngoại quốc, chạy hàng xách vàng cũng cấm.

Điều thứ 2

Chỉ có thể chuyên chở từ địa hạt này qua địa hạt khác (thành phố, tỉnh, thị xã) một số đồ vàng (đồ trang sức hay mỹ nghệ) , bất luận bao nhiêu tuổi, không quá một lạng tây (100 grammes).

Quá số đó, phải xin phép UBHC tỉnh, thị xã hay thành phố mình ở.

Muốn chuyên chở từ địa hạt này sang địa hạt khác những thứ vàng không phải đồ trang sức hay mỹ thuật, tức như:

- Tiền vàng, kể cả tiền ngoại quốc,

- Vàng thoi, vàng nén, vàng lá,

- Vàng dùng về kỹ nghệ, vàng vụn,

Thì bất cứ trọng lượng hay tuổi bao nhiêu, cũng phải xin phép Uỷ ban hành chính tỉnh, thị xã hay thành phố mình ở.

Khi cấp giấy Uỷ ban hành chính tỉnh, thị xã hay thành phố phải xét xem sự chuyên trở có mục đích gì, để bài trừ sự buôn bán lén lút và đầu cơ vàng.

Điều thứ 3

Việc buôn bán vàng trong nước, không cứ là vàng gì, phải do những nhà buôn có giấy phép của Uỷ ban hành chính tỉnh, thị xã hay thành phố.

Trong hạn một tháng kể từ ngày ban bố Sắc lệnh này, những nhà buôn đó phải gửi đơn xin phép lên Uỷ ban hành chính tỉnh, thị xã hay thành phố mình ở.

Điều thứ 4

Những nhà buôn được phép mua hay bán vàng, bắt buộc, ngoài những sổ sách thương mại thường có, phải giữ hai quyển sổ đúng như mẫu kèm theo Sắc lệnh này (bản phụ thuộc 1 và 2).

1) Quyển thứ nhất để ghi những việc mua vàng;

2) Quyển thứ hai để ghi những việc bán vàng.

Mỗi khi mua, bán phải ghi dần vào những sổ đó, không được bỏ trống hay viết len vào giữa hai dòng. Những sổ đó làm bằng giấy thường, có đánh số trang, từ trang đầu đến trang cuối và mỗi trang phải có chữ ký của nhà chức trách ý như những sổ sách thương mại nói trên, và phải đưa trình nhà chức trách mỗi khi hỏi đến.

Các sự sửa chữa phải do cước chú riêng ở dưới, cả hai bên mua bán đều ký hay điểm chỉ nhận và phải viết bằng mực đỏ.

Điều thứ 5

Nếu trái với những điều nói trên, sẽ bị phạt:

- Tiền, nhất thiết gấp ba giá số vàng gian lậu hay định gian lậu;

- Tù, từ một tháng đến hai năm, hoặc sẽ phải chịu một trong hai thứ hình phạt ấy.

Nếu tái phạm, có thể bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

Số vàng gian lậu hay định gian lậu bắt được sẽ được tịch thu.

Tiết thứ hai việc buôn bán bạc

Điều thứ 6

Nay cấm hẳn, nếu không được Bộ trưởng Bộ Tài chính cho phép:

- Việc xuất cảng bạc nén, bạc thoi, bạc vụn, tiền tệ bằng bạc, đồ bạc;

- Việc mua bán, định mua bán hay dạm mau bán tiền tệ trong nước bằng bạc (hoặc bằng loại kim khác) quá giá do pháp luật đã định;

- Việc mối lái, tập trung bạc có mục đích lũng đoạn hoặc bán cho người ngoại quốc, chạy hàng xách bạc cũng cấm.

Điều thứ 7

Chỉ có thể chuyên chở từ địa hạt này qua địa hạt khác (thành phố, tỉnh, thị xã) một số đồ bạc (đồ trang sức hay mỹ thuật), bất luận bao nhiêu tuổi, không quá một cân (1 kilogammes).

Quá số đó, phải xin phép Uỷ ban hành chính tỉnh, thị xã hay thành phố mình ở.

Muốn chuyên chở từ địa hạt này qua địa hạt khác những thứ bạc không phải đồ trang sức hay mỹ thuật (bạc nén, thoi, vụn....) thì bất cứ trọng lượng hay tuổi bao nhiêu cũng phải xin phép Uỷ ban hành chính tỉnh, thị xã hay thành phố mình ở.

Khi cấp giấy phép, Uỷ ban hành chính tỉnh, thị xã hay thành phố phải xét xem sự chuyên chở có mục đích gì để bài trừ sự buôn bán lén lút và đầu cơ bạc.

Điều thứ 8

Nếu trái với Điều thứ 6 và thứ 7 sẽ bị phạt:

- Tiền, nhất thiết gấp ba số bạc gian lậu hay định gian lậu;

- Tù, từ sáu ngày đến sáu tháng, hoặc sẽ phải chịu một trong hai thứ hình phạt ấy.

Nếu tái phạm, có thể bị phạt tù từ hai tháng đến hai năm.

Đồ bạc hay tiền tệ gian lậu hay định gian lậu, bắt được, sẽ bị tịch thu.

Điều thứ 9

Những luật lệ trước trái với Sắc lệnh này đều bãi bỏ.

Điều thứ 10

Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Bộ trưởng Bộ Tài chính chiểu Sắc lệnh thi hành.  

Văn bản này đang được cập nhật văn bản gốc, vui lòng xem nội dung toàn văn và kiểm tra lại sau.

Tải văn bản

Văn bản này đang được cập nhật văn bản gốc, vui lòng xem nội dung toàn văn và kiểm tra lại sau.

Bản đồ quan hệ

Chưa có lược đồ liên kết cho văn bản này.