Công văn hướng dẫn việc xác định số thuế giá trị gia tăng (GTGT) phải nộp để so sánh với mức thuế doanh thu trước đây làm căn cứ xét giảm thuế GTGT trong năm 1999 đối với các doanh nghiệp trực tiếp nhập khẩu hàng hóa, vật tư.
Đối tượng áp dụng
Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Các điểm cốt lõi
- Doanh nghiệp bị lỗ do nguyên nhân số thuế GTGT phải nộp lớn hơn số thuế tính theo mức thuế doanh thu trước đây được xét giảm thuế GTGT trong thời gian 3 năm đầu thực hiện Luật thuế GTGT (từ năm 1999 đến hết năm 2001).
- Số thuế GTGT được xét miễn giảm từng năm tương ứng với số lỗ do nguyên nhân trên nhưng tối đa không vượt quá số thuế GTGT phải nộp phát sinh trong năm xin xét giảm thuế.
- Công thức xác định thuế GTGT phải nộp: Thuế GTGT đầu ra + Thuế GTGT đã nộp ở khâu nhập khẩu - Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ.
- Việc xem xét giảm thuế GTGT do Bộ Tài chính phân cấp và giao cho các Cục thuế địa phương thực hiện.
- Các Cục thuế phải báo cáo cụ thể về số thuế GTGT được giảm trong năm 1999 về Bộ Tài chính (Tổng cục Thuế).
🌐 Tác động xã hội từ văn bản này
- Giúp doanh nghiệp bị lỗ do nguyên nhân số thuế GTGT phải nộp lớn hơn mức thuế trước đây có cơ hội được xét giảm thuế.
- Các Cục thuế địa phương phải thực hiện việc xem xét và báo cáo cụ thể về số thuế GTGT được giảm trong năm 1999.
❓ Câu hỏi thường gặp
Doanh nghiệp bị lỗ do nguyên nhân số thuế GTGT phải nộp lớn hơn mức thuế trước đây có được xét giảm thuế không?
Có, nhưng tối đa không vượt quá số thuế GTGT phải nộp phát sinh trong năm xin xét giảm thuế.
Việc xác định số thuế GTGT phải nộp để so sánh với mức thuế doanh thu trước đây được thực hiện như thế nào?
Công thức xác định: Thuế GTGT đầu ra + Thuế GTGT đã nộp ở khâu nhập khẩu - Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ.
Ai có trách nhiệm xem xét và báo cáo về số thuế GTGT được giảm trong năm 1999?
Cục Thuế địa phương thực hiện việc xem xét và phải báo cáo cụ thể về Bộ Tài chính (Tổng cục Thuế).
Toàn văn
|
TỔNG CỤC THUẾ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 2700/TC/TCT |
Hà Nội, ngày 24 tháng 3 năm 2003 |
CÔNG VĂN
CỦA BỘ TÀI CHÍNH SỐ 2700TC/TCT NGÀY 25 THÁNG 3 NĂM 2003
VỀ VIỆC XÉT GIẢM THUẾ GTGT NĂM 1999
Kính gửi: Cục thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Theo quy định tại Điều 28 Luật thuế GTGT, Điều 20 Nghị định số 28/1998/NĐ-CP, Nghị định số 102/1998/NĐ-CP của Chính phủ, mục II phần H Thông tư số 89/1998/TT-BTC ngày 27/6/1998, mục VI Thông tư số 175/1998/TT-BTC ngày 24/12/1998 của Bộ Tài chính thì các cơ sở sản xuất kinh doanh bị lỗ do nguyên nhân số thuế GTGT phải nộp lớn hơn số thuế tính theo mức thuế doanh thu trước đây được xét giảm thuế GTGT trong thời gian 3 năm đầu thực hiện Luật thuế GTGT (từ năm 1999 đến hết năm 2001), số thuế GTGT được xét miễn giảm từng năm tương ứng với số lỗ do nguyên nhân trên nhưng tối đa không vượt quá số thuế GTGT phải nộp phát sinh trong năm xin xét giảm thuế.
Việc xem xét giảm thuế GTGT, Bộ Tài chính đã phân cấp và giao cho các Cục thuế địa phương thực hiện. Tuy nhiên đến nay vẫn còn tồn tại hồ sơ của một số doanh nghiệp đề nghị giảm thuế GTGT trong năm 1999 đối với trường hợp doanh nghiệp trực tiếp nhập khẩu hàng hoá, vật tư có thuế GTGT đã nộp ở khâu nhập khẩu. Để giải quyết dứt điểm vấn đề này, Bộ Tài chính hướng dẫn việc xác định số thuế GTGT phải nộp để so sánh với mức thuế doanh thu trước đây làm căn cứ xét giảm thuế GTGT trong năm 1999 đối với các trường hợp này như sau:
|
Thuế GTGT phải nộp |
= |
Thuế GTGT đầu ra (theo hoá đơn) |
+ |
Thuế GTGT đã nộp ở khâu NK (theo chứng từ nộp thuế GTGT ở khâu nhập khẩu) |
- |
Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ (bao gồm thuế GTGT theo hoá đơn, bảng kê hàng hoá mua vào, chứng từ nộp thuế GTGT ở khâu NK) |
Bộ Tài chính thông báo để các Cục thuế biết, thực hiện; đồng thời báo cáo cụ thể về số thuế GTGT được giảm trong năm 1999 về Bộ Tài chính (Tổng cục Thuế).
Trương Chí Trung
(Đã ký)
Bản đồ quan hệ
Bấm vào một văn bản để mở. Viền đỏ = quan hệ làm thay đổi hiệu lực.
Bản dịch
Văn bản này có sẵn ở các ngôn ngữ sau: