Thông tư số 299-TC/TQD hướng dẫn việc áp dụng chính sách thuế sát sinh đối với chăn nuôi lợn từ năm 1970. Không còn thu thuế sát sinh cho mậu dịch quốc doanh, nhưng người chăn nuôi vẫn phải nộp thuế khi giết thịt một phần lợn để lại. Các quy định về thuế sát sinh được điều chỉnh phù hợp với chính sách khuyến khích giao nộp nông sản.
적용 범위
Các ông chủ tịch uỷ ban hành chính, các khu tự trị, thành phố Hà Nội và Hải Phòng, các tỉnh
핵심 사항
- Kể từ ngày 1/1/1970, mậu dịch quốc doanh không thu thuế sát sinh đối với lợn do mình thu mua và giết thịt.
- Người chăn nuôi phải nộp thuế sát sinh 6đồng/con khi giết thịt số lợn để lại, nhưng được giảm 15% (0đ90) ở đồng bằng hoặc 20% (1đ20) ở miền núi.
- Phần thuế sát sinh trước đây trích cho ngân sách xã nay chuyển thành tỷ lệ phần trăm của khoản thu cho ngân sách tỉnh/thành phố.
- Các trường hợp khác như tự lực chăn nuôi, đám ma, đám cưới vẫn áp dụng quy định cũ trong các Thông tư số 01-TC/TT và 03-TT/LB.
- Một số nơi có thể tiếp tục thu mua toàn bộ lợn xuất chuồng nhưng phải cấp tem phiếu hoặc sổ để người chăn nuôi mua thịt.
🌐 이 문서의 사회적 영향
- Người dân được hưởng lợi từ việc miễn thuế sát sinh đối với một phần thịt lợn để lại, giảm gánh nặng về chi phí.
- Doanh nghiệp mậu dịch thực phẩm phải điều chỉnh kế hoạch sản xuất và kinh doanh theo quy định mới.
- Các địa phương cần có biện pháp chỉ đạo chặt chẽ việc thi hành các quy định này.
❓ 자주 묻는 질문
Từ khi nào mậu dịch quốc doanh không thu thuế sát sinh?
Kể từ ngày 1/1/1970, mậu dịch quốc doanh không còn thu thuế sát sinh đối với lợn do mình thu mua và giết thịt.
Người chăn nuôi phải nộp bao nhiêu tiền thuế sát sinh?
Người chăn nuôi phải nộp 6đồng/con khi giết thịt số lợn để lại, nhưng được giảm 15% (0đ90) ở đồng bằng hoặc 20% (1đ20) ở miền núi.
Các trường hợp khác như tự lực chăn nuôi có nộp thuế sát sinh không?
Các trường hợp khác như tự lực chăn nuôi, đám ma, đám cưới vẫn áp dụng quy định cũ trong các Thông tư số 01-TC/TT và 03-TT/LB.
Người chăn nuôi được miễn thuế sát sinh đối với bao nhiêu phần thịt lợn để lại?
Người chăn nuôi vẫn được miễn thuế sát sinh đối với một số thịt được dành lại, theo hướng dẫn ở đoạn 2 của Thông tư số 125-TTg/TN ngày 31/12/1964.
Các địa phương có thể tiếp tục thu mua toàn bộ lợn xuất chuồng không?
Một số nơi có thể tiếp tục thu mua toàn bộ lợn xuất chuồng nhưng phải cấp tem phiếu hoặc sổ để người chăn nuôi mua thịt.
전문
|
BỘ TÀI CHÍNH |
VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ |
|
Số: 299-TC/TQD |
Hà Nội, ngày 29 tháng 12 năm 1969 |
THÔNG TƯ
Hướng dẫn vận dụng chính sách thuế sát sinh
BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH
|
Kính gửi: |
-Các ông chủ tịch uỷ ban hành chính |
Căn cứ Nghị quyết số 136-CP ngày 05 tháng 08 năm 1969 của Hội đồng Chính phủ ban hành chính sách và biện pháp khuyến khích chăn nuôi lợn;
Căn cứ Thông tư liên bộ Nông nghiệp - Nội thương số 03-TT/LB ngày 06 tháng 10 năm 1969 hướng dẫn thi hành nghị quyết nói trên;
Căn cứ Chỉ thị số 132-TTg ngày 04 tháng 12 năm 1969, Bộ Tài chính hướng dẫn một số điểm về thuế sát sinh như sau:
1. Kề từ ngày 01 tháng 01 năm 1970, đối với lợn do mậu dịch quốc doanh thu mua và giết thịt, sẽ không thu thuế sát sinh như trước, mà áp dụng chế độ khuyến khích giao nộp nông sản, thực phẩm như đã nêu trong Chỉ thị số 132-TTg ngày 04 tháng 12 năm 1969 của Thủ tướng Chính phủ.
Do không còn phải nộp thuế sát sinh, không còn thu mua 100% số lợn của người chăn nuôi và không còn để lại thịt cho họ bằng tem phiếu, cho nên khi thu mua lợn, mậu dịch quốc doanh thực phẩm không phải trả trước số tiền giảm thuế sát sinh cho người chăn nuôi nữa. Số vốn công ty thực phẩm được ngân sách cấp để trả trước số tiền giảm thuế này, nay phải nộp lại cho ngân sách. Người chăn nuôi vẫn được miễn thuế sát sinh đối với một số thịt được dành lại (xem hướng dẫn ở đoạn 2 dưới theo đúng như Thông tư số 125-TTg/TN ngày 31 tháng 12 năm 1964 của Thủ tướng Chính phủ đã quy định).
Phần thuế sát sinh trước đây trích cho ngân sách xã nay được thay bằng một tỷ lệ phần trăm (%) của khoản thu cho ngân sách tỉnh, thành phố theo chế độ khuyến khích giao nộp nông sản, thực phẩm (sẽ hướng dẫn chi tiết riêng).
2. Đối với số lợn để lại cho người chăn nuôi, sau khi họ đã làm nghĩa vụ bán lợn cho Nhà nước, thì khi giết thịt, người chăn nuôi phải nộp thuế 6đ/1 con nhưng được giảm 15% (0đ90) nếu ở đồng bằng, hoặc 20% (1đ20) nếu ở miền núi (tức là chỉ phải nộp 5đ10 hoặc 4đ80). Xã ở đồng bằng cũng như ở miền núi, vẫn được trích cho ngân sách xã, mức cố định 0đ80/1 con lợn giết thịt như cũ.
3. Đối với các trường hợp giết thịt lợn khác (giết thịt lợn tự lực chăn nuôi, giết thịt lợn trong các đám ma, đám cưới ở miền núi v.v…), việc thu và giảm miễn thuế sát sinh vẫn thi hành như quy định trong các Thông tư số 01-TC/TT ngày 05 tháng 01 năm 1965 và số 03-TT/LB ngày 21 tháng 01 năm 1965.
4. Đối với những nơi, vì lý do nào đó, Uỷ ban hành chính địa phương còn cho phép công ty thực phẩm tiếp tục thu mua toàn bộ số lợn xuất chuồng đồng thời để lại một số thịt cho người chăn nuôi bằng cách cấp tem phiếu hoặc sổ, để mua thịt của Mậu dịch thực phẩm: sẽ hướng dẫn sau.
Đề nghị Uỷ ban hành chính chỉ đạo chặt chẽ việc thi hành các quy định trong thông tư này. Trong khi thi hành, nếu có vướng mắc gì, đề nghị phản ánh về Bộ Tài chính để nghiên cứu, giải quyết.
|
|
K.T. BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH
Trịnh Văn Bính |
관계도
문서를 클릭하면 열립니다. 빨간 테두리=효력을 변경하는 관계.