Thông tư số 52/TC-TCT Hướng dẫn thuế lợi tức bổ sung

Thông tư số 52/TC-TCT hướng dẫn về thuế lợi tức bổ sung áp dụng cho các hộ tiểu chủ và xí nghiệp tư doanh, với thuế suất là 20% đối với phần lợi tức hàng tháng trên sáu triệu đồng. Thuế được tạm thu hàng tháng để đảm bảo công bằng xã hội.

Số hiệu52/TC-TCT
Loại văn bảnThông tư
Cơ quan ban hànhBộ Tài Chính
Người kýPhan Văn Dĩnh — Đang cập nhật
Cập nhật02/07/2026
Lĩnh vựcChưa Phân Loại
Ngày ban hành08/11/1991
Ngày áp dụng08/11/1991
Ngày hết hiệu lực
Tình trạngCòn hiệu lực
✦ Tóm lược thông minh

Thông tư số 52/TC-TCT hướng dẫn về thuế lợi tức bổ sung áp dụng cho các hộ tiểu chủ và xí nghiệp tư doanh, với thuế suất là 20% đối với phần lợi tức hàng tháng trên sáu triệu đồng. Thuế được tạm thu hàng tháng để đảm bảo công bằng xã hội.

Đối tượng áp dụng

Hộ tiểu chủ và xí nghiệp tư doanh (chỉ áp dụng cho đơn vị có một chủ, thuê mướn nhân công).

Các điểm cốt lõi

  • chịu thuế lợi tức bổ sung là hộ tiểu chủ và xí nghiệp tư doanh thực chất chỉ có một chủ, thuê mướn lao động.
  • Thuế suất thuế lợi tức bổ sung là 20% áp dụng đối với phần lợi tức hàng tháng trên sáu triệu đồng.
  • Lợi tức chịu thuế lợi tức bổ sung được tính từ tổng số lợi tức cả năm và chia đều theo thời gian thực tế có hoạt động của từng ngành nghề.
  • Thuế lợi tức bổ sung cần được tạm thu hàng tháng đối với các cơ sở có lợi tức cao và tương đối ổn định ở mức này.
  • Tránh tình trạng hoàn thuế lợi tức bổ sung khi tính bình quân lợi tức chịu thuế trong cả năm thấp hơn.

🌐 Tác động xã hội từ văn bản này

  • Tác động tích cực: Điều tiết thu nhập cho ngân sách, góp phần bảo đảm công bằng xã hội.
  • Tác động tiêu cực: Chi phí tăng thêm đối với doanh nghiệp và hộ kinh doanh phải tạm nộp thuế hàng tháng.

❓ Câu hỏi thường gặp

Thuế suất thuế lợi tức bổ sung là bao nhiêu?

Thuế suất thuế lợi tức bổ sung là 20% áp dụng đối với phần lợi tức hàng tháng trên sáu triệu đồng.

Đối tượng chịu thuế lợi tức bổ sung là ai?

Đối tượng chịu thuế lợi tức bổ sung là hộ tiểu chủ và xí nghiệp tư doanh thực chất chỉ có một chủ, thuê mướn lao động.

Lợi tức chịu thuế lợi tức bổ sung được tính như thế nào?

Lợi tức chịu thuế lợi tức bổ sung được tính từ tổng số lợi tức cả năm và chia đều theo thời gian thực tế có hoạt động của từng ngành nghề.

Thuế lợi tức bổ sung cần được tạm thu hàng tháng khi nào?

Thuế lợi tức bổ sung cần được tạm thu hàng tháng đối với các cơ sở có lợi tức cao và tương đối ổn định ở mức này.

Tình huống nào sẽ dẫn đến hoàn thuế lợi tức bổ sung?

Trong trường hợp tính bình quân lợi tức chịu thuế trong cả năm thấp hơn, doanh nghiệp hoặc hộ kinh doanh có thể phải hoàn lại thuế lợi tức bổ sung đã tạm nộp.

Toàn văn

BỘ TÀI CHÍNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 52/TC-TCT

Hà Nội, ngày 08 tháng 11 năm 1991

THÔNG TƯ

Hướng dẫn thuế lợi tức bổ sung

Căn cứ Điều 10 Luật thuế lợi tức, Hội đồng Nhà nước đã ban hành Nghị quyết số 282B-HĐNN 8 quy định thuế suất thuế lợi tức bổ sung là 20% áp dụng đối với phần lợi tức chịu thuế hàng tháng trên sáu triệu của hộ tư nhân kinh doanh.

Để thực hiện quy định trên được thống nhất trong cả nước, Bộ Tài chính hướng dẫn như sau:

1. Về đối tượng áp dụng thuế suất thuế lợi tức bổ sung

Theo Nghị quyết số 16 của Bộ Chính trị giữa năm 1988 về đổi mới chính sách và cơ chế quản lý đối với các cơ sở sản xuất thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh và theo Nghị định số 27-HĐBT ngày 9 tháng 3 năm 1988 của Hội đồng Bộ trưởng về chính sách đối với kinh tế cá thể, kinh tế tư nhân thì các đơn vị thuộc kinh tế cá thể, tư nhân được phát triển dưới các hình thức: hộ cá thể, hộ tiểu chủ và xí nghiệp tư bản sản xuất công nghiệp (gọi tắt là xí nghiệp tư doanh). Hộ tiểu chủ là đơn vị kinh tế mà chủ hộ vừa là người có vốn sản xuất, vừa là người lao động trực tiếp hoặc đóng vai trò chính về kỹ thuật và tự điều hành sản xuất - kinh doanh, vừa có thuê mướn lao động. xí nghiệp tư doanh là xí nghiệp do một hoặc nhiều nhà tư sản dân tộc cũng góp vốn để tổ chức sản xuất, kinh doanh dưới hình thức xí nghiệp tư doanh, công ty tư doanh, công ty cổ phần, tổ hợp kinh doanh với quy mô không hạn chế và có thuê mướn lao động.

Việc quy định thuế suất thuế lợi tức bổ sung là nhằm điều tiết cho ngân sách một phần thu nhập của những hộ tư nhân kinh doanh có thu nhập quá cao nhằm góp phần bảo đảm công bằng xã hội.

Do đó, đối tượng chịu thuế lợi tức bổ sung không phụ thuộc vào hình thức tên gọi mà áp dụng đối với hộ tiểu chủ và cả đối với xí nghiệp tư doanh thực chất chỉ có một chủ xí nghiệp, có thuê mướn nhân công thuộc mọi ngành kinh tế: sản xuất, xây dựng, vận tải, thương nghiệp, ăn uống, dịch vụ (không áp dụng đối với các tổ chức kinh tế là xí nghiệp tư doanh hoạt động dưới hình thức công ty tư doanh, công ty cổ phần, tổ hợp tư doanh gồm nhiều chủ hộ góp vốn và chia lãi).

2. Về lợi tức chịu thuế lợi tức bổ sung:

Theo Điều 6 Luật thuế lợi tức, căn cứ tính thuế là tổng số lợi tức chịu thuế cả năm (không phân biệt hoạt động chính, phụ, thường xuyên, không thường xuyên). Do đó lợi tức chịu thuế hàng tháng phải chịu thuế lợi tức bổ sung là lợi tức chịu thuế bình quân tháng từ tổng số lợi tức chịu thuế cả năm nếu có lợi tức chịu thuế bình quân tháng) trên 6 triệu đồng và được tính cụ thể theo thời gian thực tế có hoạt động của từng ngành nghề (mang tính chất thường xuyên hay thời vụ).

3. Về phương pháp thu thuế lợi tức bổ sung:

Theo các Điều 13, 14 Luật thuế lợi tức và Điều 10 Nghị định số 353-HĐBT ngày 02 tháng 10 năm 1990 của Hội đồng Bộ trưởng quy định chi tiết thi hành Luật thuế doanh thu thì các tổ chức, cá nhân kinh doanh không thuộc đối tượng nộp thuế lợi tức theo phương pháp khoán, hàng tháng phải làm tờ khai nộp thuế lợi tức và được tạm nộp thuế lợi tức theo quy định của cơ quan thuế. Cuối năm phải quyết toán và thanh toán thuế lợi tức với cơ quan thuế. Do đó, thuế lợi tức bổ sung cần được cân nhắc, xem xét tạm thu hàng tháng đối với các cơ sở có lợi tức cao và tương đối ổn định ở mức này. Cần tránh tình trạng cơ sở chỉ có một số ít tháng lợi tức chịu thuế tương đối cao, có tạm nộp thuế lợi tức bổ sung, trong những tháng này nhưng thực tế, tính bình quân trong cả năm thì lợi tức chịu thuế thấp, phải hoàn lại thuế lợi tức bổ sung đã tạm nộp./.

 (Đã ký)

Phan Văn Dĩnh

Văn bản này đang được cập nhật văn bản gốc, vui lòng xem nội dung toàn văn và kiểm tra lại sau.

Bản đồ quan hệ

52/TC-TCT
Thông tư số 52/TC-TCT Hướng dẫn thuế lợi tức bổ sung
Còn hiệu lực
↓ Văn bản chịu tác động từ văn bản này
Dẫn chiếu 3
16 Sắc lệnh số 16 Về việc đặt ra ngạch "thanh tra học vụ" Hết hiệu lực

Bấm vào một văn bản để mở. Viền đỏ = quan hệ làm thay đổi hiệu lực.