Thông tư này hướng dẫn chế độ trợ cấp cho người nghiện ma túy và người bán dâm không có nơi cư trú nhất định khi họ vào lưu trú tạm thời tại cơ sở chữa bệnh. Mức trợ cấp bao gồm tiền ăn, đồ dùng cá nhân, chi phí khám chữa bệnh và hỗ trợ khác.
Đối tượng áp dụng
[Người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi trở lên] và [người bán dâm từ đủ 16 tuổi đến 55 tuổi]
Các điểm cốt lõi
- Người nghiện ma túy và người bán dâm không có nơi cư trú nhất định được trợ cấp tiền ăn trong thời gian lưu trú tạm thời tại cơ sở chữa bệnh (Điều 2.1).
- Người lưu trú tạm thời được sử dụng quần áo, chăn màn của cá nhân; trường hợp thiếu thì Trung tâm mua sắm cho mượn (Điều 2.2).
- Người bán dâm và người nghiện ma túy được khám chữa bệnh với mức chi tối đa là 150.000 đồng/người và 250.000 đồng/người; nếu cả hai thì không quá 400.000 đồng/người (Điều 2.3).
- Người bị ốm nặng hoặc mắc bệnh hiểm nghèo được hỗ trợ chi phí điều trị tại bệnh viện Nhà nước với mức tối đa là 1.000.000 đồng/người/lần (Điều 2.4).
- Chi phí mai táng cho người lưu trú tạm thời bị chết do Trung tâm tổ chức và thanh toán theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (Điều 2.5).
🌐 Tác động xã hội từ văn bản này
- Người nghiện ma túy và người bán dâm được hỗ trợ về mặt vật chất khi vào lưu trú tạm thời tại cơ sở chữa bệnh.
- Cơ sở chữa bệnh phải đảm bảo điều kiện sinh hoạt cho người lưu trú tạm thời, tạo điều kiện thuận lợi để họ có thể tiếp tục quá trình cai nghiện hoặc tái hòa nhập cộng đồng.
- Người dân và gia đình của những người này có thể gặp khó khăn về tài chính khi cần hỗ trợ chi phí y tế ngoài Trung tâm.
❓ Câu hỏi thường gặp
Mức tiền ăn cho người lưu trú tạm thời được quy định như thế nào?
Mức tiền ăn trong thời gian lưu trú tạm thời bằng mức tiền ăn một tháng của người đang chấp hành quyết định xử phạt hành chính tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội, nhân với số ngày lưu trú tối đa không quá 15 ngày.
Người bán dâm và người nghiện ma túy được hỗ trợ chi phí khám chữa bệnh đến mức nào?
Mức chi về tiền thuốc chữa trị cho người bán dâm là tối đa 150.000 đồng/người, còn người nghiện ma túy là 250.000 đồng/người; nếu cả hai thì không quá 400.000 đồng/người.
Trường hợp người lưu trú tạm thời bị ốm nặng hoặc mắc bệnh hiểm nghèo, chi phí điều trị được hỗ trợ đến mức nào?
Chi phí điều trị tại bệnh viện Nhà nước do bản thân hoặc gia đình trả; những người thuộc diện chính sách hoặc hoàn cảnh gia đình quá khó khăn được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận thì Giám đốc Trung tâm xét hỗ trợ 50% hoặc toàn bộ chi phí nhưng không quá 1.000.000 đồng/người/lần.
Trong trường hợp người lưu trú tạm thời bị chết, ai có trách nhiệm tổ chức mai táng?
Ban giám đốc Trung tâm có trách nhiệm tổ chức mai táng và thanh toán chi phí theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Khi hết thời hạn lưu trú tạm thời mà đối tượng được quyết định trở về cộng đồng, họ sẽ được hỗ trợ gì?
Đối với những người khó khăn, Giám đốc Trung tâm xét hỗ trợ tiền tàu xe đi từ Trung tâm về nơi bị tạm giữ trước đây theo giá phương tiện giao thông công cộng của Nhà nước và tiền ăn đường 10.000 đồng/ngày/người.
Toàn văn
|
BỘ TÀI CHÍNH - BỘ LAO ĐỘNG-THƯƠNG
BINH VÀ XÃ HỘI |
CỘNG HÒA XÃ
HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 56/2005/TTLT/BTC-BLĐTBXH |
Hà Nội, ngày 5 tháng 7 năm 2005 |
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH
HƯỚNG DẪN CHẾ ĐỘ TRỢ CẤP CHO ĐỐI TƯỢNG KHÔNG CÓ NƠI CƯ TRÚ NHẤT ĐỊNH VÀO LƯU TRÚ TẠM THỜI TẠI CƠ SỞ CHỮA BỆNH
Căn cứ Nghị định số 43/2005/NĐ-CP ngày 05 tháng 4 năm 2005 của Chính phủ quy định việc đưa người nghiện ma tuý, người bán dâm không có nơi cư trú nhất định vào lưu trú tạm thời tại cơ sở chữa bệnh (sau đây gọi là Trung tâm); liên tịch Bộ Tài chính - Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn chế độ trợ cấp cho đối tượng không nơi cư trú nhất định vào lưu trú tạm thời tại Trung tâm (sau đây gọi là người lưu trú tạm thời), cụ thể như sau:
1. Đối tượng áp dụng:
a) Người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi trở lên bị bắt quả tang sử dụng trái phép chất ma tuý mà không có nơi cư trú nhất định.
b) Người bán dâm từ đủ 16 tuổi đến 55 tuổi bị bắt quả tang thực hiện hành vi bán dâm hoặc người bán dâm có tính chất thường xuyên mà không có nơi cư trú nhất định.
2. Chế độ trợ cấp:
2.1. Trợ cấp tiền ăn:
Căn cứ vào tình hình thực tế của từng địa phương và tiêu chuẩn, định lượng ăn của người đang chấp hành quyết định xử phạt hành chính tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội (quy định tại tiết a, điểm 1, mục B, phần II, Thông tư Liên tịch số 13/2004/TTLT-BLĐTBXH-BTC ngày 2/11/2004 của Liên Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội - Bộ Tài chính hướng dẫn về trách nhiệm đóng góp và chế độ trợ cấp đối với người bán dâm, người nghiện ma tuý); Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh) quy định mức trợ cấp tiền ăn cho người lưu trú tạm thời theo nguyên tắc sau:
|
Tiền ăn trong thời gian lưu trú tạm thời |
= |
Mức tiền ăn một tháng |
x |
Số ngày lưu trú
tạm thời tại cơ sở chữa bệnh |
|
30 ngày |
2.2. Về đồ dùng cho cá nhân: Trong thời gian lưu trú tạm thời, người lưu trú tạm thời được sử dụng quần áo, chăn, màn của cá nhân. Trường hợp người lưu trú tạm thời thiếu quần áo, chăn, màn thì Trung tâm căn cứ lưu lượng người lưu trú tạm thời để mua sắm quần áo, chăn, màn cho người lưu trú tạm thời mượn.
2.3. Chế độ chữa trị, cai nghiện:
- Đối với người bán dâm trong thời gian lưu trú tạm thời được khám, chữa bệnh và được điều trị nếu mắc bệnh thông thường, các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Mức chi về tiền thuốc chữa trị theo chỉ định của Bác sĩ điều trị nhưng tối đa không quá 150.000 đồng/người.
- Đối với người nghiện ma túy trong thời gian lưu trú tạm thời được hỗ trợ cắt cơn, cấp cứu, chi phí xét nghiệm và thuốc điều trị các bệnh cơ hội khác. Mức chi về tiền thuốc chữa trị theo chỉ định của Bác sĩ điều trị nhưng tối đa không quá 250.000 đồng/người.
Trường hợp người bán dâm đồng thời là người nghiện ma tuý thì được trợ cấp thuốc điều trị và thuốc hỗ trợ cắt cơn nghiện mức tối đa không quá 400.000đ/người.
- Trong thời gian lưu trú tạm thời, nếu người bị lưu trú tạm thời đã được sử dụng thuốc chữa trị, điều trị theo mức tối đa nêu trên thì khi có quyết định chính thức vào Trung tâm sẽ không được hỗ trợ tiếp tiền thuốc chữa trị và cai nghiện.
2.4. Chế độ đối với người bị ốm nặng hoặc mắc bệnh
hiểm nghèo:
Trong thời gian lưu trú tạm thời, nếu người bán dâm, người nghiện ma tuý bị ốm
nặng hoặc mắc bệnh hiểm nghèo vượt quá khả năng chữa trị của Trung tâm phải
chuyển đến bệnh viện của Nhà nước điều trị thì chi phí điều trị trong thời gian
nằm viện do bản thân hoặc gia đình người đó tự trả, những người thuộc diện
chính sách hoặc hoàn cảnh gia đình quá khó khăn được Ủy ban nhân dân cấp xã xác
nhận thì được Giám đốc Trung tâm xét hỗ trợ 50% hoặc toàn bộ chi phí điều trị
nhưng không quá 1.000.000 đồng/người/lần điều trị .
2.5. Chế độ đối với người bị chết:
Trong thời gian lưu trú tạm thời, nếu người lưu trú tạm thời tại Trung tâm bị chết, trong thời gian 24 giờ mà không xác định được thân nhân người chết hoặc thân nhân người đó không đến kịp thì Ban giám đốc Trung tâm có trách nhiệm tổ chức mai táng. Chi phí mai táng thực hiện theo quy định Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh. Trường hợp cần trưng cầu giám định pháp y để xác nhận nguyên nhân chết, thì cơ sở chữa bệnh thanh toán chi phí này theo quy định hiện hành của Nhà nước.
2.6. Trường hợp hết thời hạn lưu trú tạm thời mà đối tượng được quyết định trở về cộng đồng, đối với những người khó khăn được Giám đốc Trung tâm xét hỗ trợ một số khoản sau:
- Tiền tàu xe đi từ Trung tâm về tới nơi bị tạm giữ trước đây theo giá phương tiện giao thông công cộng của Nhà nước.
- Tiền ăn đường: 10.000 đồng/ngày/người.
3. Quyết toán chế độ trợ cấp:
Khi Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện có quyết định chính thức về việc đưa người vào Trung tâm thì các chi phí đã cấp cho đối tượng trong thời gian lưu trú tạm thời được tính vào trợ cấp cho người bán dâm, người nghiện ma tuý (kể cả người chưa thành niên) bị bắt buộc đưa vào trung tâm theo quy định tại Thông tư Liên tịch số 13/2004/TTLT-BLĐTBXH-BTC ngày 2/11/2004 của Liên Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội - Bộ Tài chính hướng dẫn về trách nhiệm đóng góp và chế độ trợ cấp đối với người bán dâm, người nghiện ma tuý.
Trường hợp hết thời hạn lưu trú tạm thời mà Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện không ra quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh, đối tượng được trở về cộng đồng thì toàn bộ các chi phí đã chi cho đối tượng được quyết toán vào kinh phí hoạt động của cơ sở chữa bệnh.
4. Tổ chức thực hiện:
Kinh phí trợ cấp cho các đối tượng theo quy định tại Thông tư này được bố trí trong dự toán chi đảm bảo xã hội của ngân sách địa phương hàng năm. Việc quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí trợ cấp cho các đối tượng theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Ngân sách nhà nước.
Thông tư này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Trong quá trình thực hiện nếu có khó khăn vướng mắc, đề nghị báo cáo về Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội để giải quyết./.
|
KT. BỘ TRƯỞNG
BỘ LAO ĐỘNG -THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI |
KT. BỘ TRƯỞNG |
Nơi nhận:
- Ban Bí thư Trung ương Đảng,
- Thủ tướng, các PTT Chính phủ,
- Văn phòng Quốc hội,
- Văn phòng Chủ tịch nước,
- Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng,
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ,
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao,
- Toà án nhân dân tối cao,
- HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc TW,
- Sở LĐ-TBXH, Sở Tài chính các tỉnh, TP trực thuộc TW,
- Cơ quan Trung ương của các đoàn thể,
- Cục Kiểm tra văn bản (Bộ Tư pháp),
- Công báo,
- Các Vụ, Cục, Viện thuộc Bộ LĐTBXH, Bộ Tài chính,
- Lưu VT: Bộ LĐTBXH, Bộ Tài chính.
Tải văn bản
Văn bản này đang được cập nhật văn bản gốc, vui lòng xem nội dung toàn văn và kiểm tra lại sau.
Bản đồ quan hệ
Bấm vào một văn bản để mở. Viền đỏ = quan hệ làm thay đổi hiệu lực.
Bản dịch
Văn bản này có sẵn ở các ngôn ngữ sau: