Sắc lệnh số 45/SL năm 1947 quy định về việc thành lập Tòa án binh tối cao để xét xử các quân nhân từ cấp Trung đoàn Trưởng trở lên và các quân nhân thuộc cơ quan trung ương phạm tội theo Hình luật chung hoặc tội có tính chất nhà binh. Văn bản này áp dụng cho toàn bộ lãnh thổ Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Đối tượng áp dụng
Toàn bộ lãnh thổ Việt Nam dân chủ cộng hòa
Các điểm cốt lõi
- Việc thành lập Tòa án binh tối cao để xét xử các quân nhân từ cấp Trung đoàn Trưởng trở lên và thuộc cơ quan trung ương phạm tội theo Điều 1.
- Tòa án binh tối cao gồm một Chánh án, hai Hội thẩm, một Ủy viên Chính phủ và một Lục sư (Điều 2).
- Thẩm quyền xét xử của Tòa án bao gồm các quân nhân từ cấp Trung đoàn Trưởng trở lên phạm tội theo Hình luật chung hoặc tội có tính chất nhà binh (Điều 3).
- Các bản án của Tòa án sẽ được thi hành ngay, trừ án tử hình. Khi tuyên án tử hình, Chánh án phải thông báo cho bị can về quyền xin ân giảm (Điều 4).
- Tranh chấp giữa Tòa án binh tối cao và Toà án Tư pháp hoặc Quân sự sẽ được giải quyết bởi Hội đồng phán định thẩm (Điều 5)
🌐 Tác động xã hội từ văn bản này
- Tạo cơ sở pháp lý cho việc xét xử các tội phạm nghiêm trọng trong quân đội.
- Giảm thiểu tình trạng tranh chấp giữa Tòa án binh tối cao và Toà án Tư pháp hoặc Quân sự thông qua Hội đồng phán định thẩm.
- Đưa ra quy định cụ thể về thành phần của Tòa án binh tối cao, đảm bảo tính chuyên nghiệp trong xét xử.
❓ Câu hỏi thường gặp
Tòa án binh tối cao được thành lập để làm gì?
Để xét xử các quân nhân từ cấp Trung đoàn Trưởng trở lên và thuộc cơ quan trung ương phạm tội theo Hình luật chung hoặc tội có tính chất nhà binh.
Thành phần của Tòa án binh tối cao gồm những ai?
Gồm một Chánh án, hai Hội thẩm, một Ủy viên Chính phủ và một Lục sư.
Khi nào bản án của Tòa án binh tối cao được thi hành?
Các bản án sẽ được thi hành ngay, trừ án tử hình. Khi tuyên án tử hình, Chánh án phải thông báo cho bị can về quyền xin ân giảm.
Tranh chấp giữa Tòa án binh tối cao và Toà án Tư pháp hoặc Quân sự được giải quyết như thế nào?
Được giải quyết bởi Hội đồng phán định thẩm gồm Đại biểu của Liên bộ Quốc phòng và Tư pháp, Chánh án Toà án binh tối cao và Chánh nhất Toà Thượng thẩm.
Quyền bổ nhiệm các thành viên Tòa án binh tối cao thuộc về ai?
Chánh án do Nghị định Bộ trưởng Bộ Quốc phòng bổ nhiệm, Hội thẩm thứ nhất do nghị định Bộ trưởng Bộ Tư pháp y hiệp với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Hội thẩm thứ hai và Uỷ viên Chính phủ, Lục sư đều do nghị định Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
Toàn văn
SẮC LỆNH
CỦA CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ
SỐ 45 NGÀY 25 THÁNG 4 NĂM 1947
CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ
Chiểu sắc lệnh số 34 ngày 25-3-1946 tổ chức Bộ Quốc phòng;
Chiểu sắc lệnh số 71 ngày 22-5-1946, ấn định quy tắc Quân đội quốc gia Việt Nam;
Chiểu sắc lệnh số 163 ngày 23-8-1946, tổ chức Toà án binh lâm thời;
Chiểu sắc lệnh số 19-SL ngày 16-2-1947, tổ chức các Toà án binh khu;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và sau khi Hội đồng Chính phủ đã thoả hiệp;
RA SẮC LỆNH:
Điều thứ 1
Nay đặt mỗi toà án binh tối cao, quản hạt là toàn cõi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.
Điều thứ 2
Toà án binh tối cao gồm có:
- Một chánh án và 2 Hội thẩm ngồi xử;
- Một Uỷ viên Chính phủ dựng buộc tội;
- Một lục sư chép các điều tranh luận, giữ án tù hay giấy má.
Chánh án là một quân nhân hoặc một nhân viên cao cấp Bộ Quốc phòng, do Nghị định Bộ trưởng Bộ Quốc phòng bổ nhiệm.
Hội thẩm thứ nhất là một thẩm phán đệ nhị cấp, do nghị định Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm sau khi đã y hiệp với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
Hội thẩm thứ hai là một quân nhân ngang cấp hoặc thuộc cấp trên đối với bị can, do nghị định Bộ trưởng Bộ Quốc phòng bổ nhiệm.
Uỷ viên Chính phủ và Lục sư đều là quân nhân thuộc cấp chỉ huy hoặc nhân viên Bộ Quốc phòng, do nghị định Bộ trưởng Bộ Quốc phòng bổ nhiệm.
Điều thứ 3
Toà án binh tối cao có thẩm quyền xét xử các quân nhân từ cấp Trung đoàn Trưởng trở lên và các quân nhân thuộc những cơ quan trung ương, phạm vào:
- Một hay nhiều tội định ở Hình luật chung, theo những hình phạt định ở trong ấy;
- Một hay nhiều tội có tính cách nhà binh, định ở điều thứ 7 Sắc lệnh số 163 ngày 23-8-46, theo những hình phạt định ở điều ấy.
Điều thứ 4
Các bản án của Toà án binh tối cáo sẽ thi hành ngay, trừ những án tử hình. Khi tuyên án tử hình, Chánh án bắt buộc phải báo cho phạm nhân biết rằng y có quyền đệ đơn lên Chủ tịch Chính phủ xin ân giảm.
Điều thứ 5
Nếu có sự tranh quyền giữa Toà án binh tối cao và một Toà án Tư pháp hoặc Quân sự ấy sẽ giải quyết bởi một Hội đồng phán định thẩm. Hội đồng này gồm có:
- Đại biểu của Liên bộ Quốc phòng và Tư pháp Chủ tịch
- Chánh án Toà án binh tối cao - Hội viên
- Chánh nhất Toà Thượng thẩm -
Điều thứ 6
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Bộ trưởng Bộ Tư pháp chiểu Sắc lệnh thi hành./.
Hồ Chí Minh
(Đã ký)
Tải văn bản
Văn bản này đang được cập nhật văn bản gốc, vui lòng xem nội dung toàn văn và kiểm tra lại sau.
Bản đồ quan hệ
Bấm vào một văn bản để mở. Viền đỏ = quan hệ làm thay đổi hiệu lực.
Bản dịch
Văn bản này có sẵn ở các ngôn ngữ sau: