Luật sửa đổi và bổ sung Luật Nghĩa vụ quân sự quy định về lứa tuổi tuyển vào quân đội, thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ trong các lực lượng vũ trang, chế độ huấn luyện dự bị hàng năm và việc gọi quân nhân dự bị ra phục vụ tại ngũ trong thời chiến. Luật áp dụng cho mọi công dân Việt Nam có nghĩa vụ quân sự.
Scope of application
Công dân Việt Nam từ đủ mười tám tuổi trở lên; cơ quan, tổ chức liên quan đến tuyển binh và động viên quân nhân dự bị.
Key points
- Lứa tuổi tuyển vào quân đội thường trực trong thời bình là từ mười tám đến hai mươi lăm tuổi (Điều 7).
- Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ trong bộ đội lục quân là ba năm, không quân bốn năm, hải quân năm năm (Điều 10).
- Sĩ quan dự bị, hạ sĩ quan kỹ thuật dự bị, binh sĩ kỹ thuật dự bị tham gia huấn luyện quân sự hai mươi lăm ngày mỗi năm (Điều 28).
- Thủ tướng Chính phủ ra lệnh gọi sĩ quan dự bị cấp tướng; Bộ trưởng Bộ quốc phòng ra lệnh gọi quân nhân dự bị từ cấp tá trở xuống (Điều 32b).
- Bộ trưởng Bộ quốc phòng tổ chức động viên thực tập cho các địa phương, cơ quan, đơn vị sản xuất và các tổ chức khác trong thời bình (Điều 34b)
🌐 Social impact of this document
- Tăng cường khả năng sẵn sàng chiến đấu của quân đội.
- Công dân có lứa tuổi từ mười tám đến hai mươi lăm tuổi phải chuẩn bị tâm lý cho việc nhập ngũ.
- Thời gian huấn luyện dự bị tăng lên, tạo áp lực về thời gian và công sức đối với người lao động.
- Việc gọi quân nhân dự bị ra phục vụ tại ngũ trong thời chiến được quy định cụ thể hơn.
❓ Frequently asked questions
Lứa tuổi tuyển vào quân đội thường trực là bao nhiêu?
Trong thời bình, từ mười tám đến hai mươi lăm tuổi (Điều 7).
Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ trong bộ đội không quân là bao lâu?
Bốn năm (Điều 10).
Sĩ quan dự bị phải tham gia huấn luyện quân sự bao nhiêu ngày mỗi năm?
Hai mươi lăm ngày (Điều 28).
Thủ tướng Chính phủ có quyền ra lệnh gọi sĩ quan dự bị cấp nào?
Sĩ quan dự bị cấp tướng (Điều 32b).
Bộ trưởng Bộ quốc phòng tổ chức động viên thực tập cho ai trong thời bình?
Các địa phương, cơ quan, đơn vị sản xuất và các tổ chức khác (Điều 34b).
Full text
LUẬT
SỬA ĐỔI VÀ BỔ SUNG LUẬT NGHĨA VỤ QUÂN SỰ
Theo đề nghị của Hội đồng Chính phủ, luật này quy định những điều sửa đổi và bổ sung sau đây về luật nghĩa vụ quân sự ngày 15 tháng 4 năm 1960:
Điều 1
Nay sửa đổi những điều 7, 10, 28, 32 của luật nghĩa vụ quân sự ngày 15 tháng 4 năm 1960 và thay bằng những điều (mới) sau đây:
1. Điều 7 (mới): Lứa tuổi tuyển vào quân đội thường trực trong thời bình là từ mười tám đến hai mươi nhăm tuổi, trong thời chiến là từ mười tám đến bốn nhăm tuổi.
Việc lần lượt gọi các lứa tuổi ra phục vụ tại ngũ trong thời chiến do Hội đồng quốc phòng định.
2. Điều 10 (mới): Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ trong bộ đội lục quân là ba năm.
Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ trong bộ đội không quân là bốn năm.
Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan kỹ thuật và binh sĩ kỹ thuật trong bộ đội lục quân là bốn năm.
Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ trong bộ đội hải quân là năm năm.
Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ thuộc các binh chủng kỹ thuật trong Công an nhân dân vũ trang theo như thời hạn phục vụ tại ngũ của các binh chủng, quân chủng trong Quân đội nhân dân.
Trong trường hợp đặc biệt, Bộ trưởng Bộ quốc phòng và Bộ trưởng Bộ công an có thể kéo dài thời hạn phục vụ tại ngũ của quân nhân thuộc quyền mình nhưng không được quá bốn tháng.
3. Điều 28 (mới): Sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị hàng năm phải tham gia huấn luyện quân sự theo mệnh lệnh của Bộ trưởng Bộ quốc phòng.
Sĩ quan dự bị, hạ sĩ quan kỹ thuật dự bị, binh sĩ kỹ thuật dự bị và những người được chọn để đào tạo thành sĩ quan dự bị mỗi năm phải tham gia huấn luyện quân sự hai mươi nhăm ngày.
Hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị bộ binh mỗi năm phải tham gia huấn luyện quân sự mười lăm ngày.
Trong trường hợp thật cần thiết, Hội đồng Chính phủ quyết định việc tổ chức huấn luyện quân sự tập trung cho quân nhân dự bị trong một thời gian không quá tám tháng.
4. Điều 32 (mới): Sau khi Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà công bố lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, Bộ trưởng Bộ quốc phòng ra các mệnh lệnh cần thiết để thực hiện.
Uỷ ban hành chính các cấp có nhiệm vụ thi hành mệnh lệnh động viên của Bộ trưởng Bộ quốc phòng.
Thủ trưởng các cơ quan, trường học, xí nghiệp, công trường, nông trường, lâm trường và các tổ chức khác có nhiệm vụ bảo đảm cho quân nhân dự bị thuộc tổ chức của mình chấp hành lệnh động viên được nhanh chóng.
Điều 2
Nay bổ sung tiếp theo những điều 27, 32, 34 của luật nghĩa vụ quân sự ngày 15 tháng 4 năm 1960 những điều 27b, 32b, 34b sau đây:
1. Điều 27b: Bộ trưởng Bộ quốc phòng lãnh đạo công tác tuyển binh trong toàn quốc.
Uỷ ban hành chính các cấp lãnh đạo cơ quan quân sự địa phương và các ngành có liên quan ở địa phương tổ chức thực hiện việc tuyển binh trong địa phương mình.
Thủ trưởng các cơ quan, trường học, xí nghiệp, công trường, nông trường, lâm trường và các tổ chức khác có nhiệm vụ bảo đảm cho công tác tuyển binh trong tổ chức của mình tiến hành được tốt.
2. Điều 32b: Việc gọi quân nhân dự bị ra phục vụ tại ngũ trong thời chiến quy định như sau:
Thủ tướng Chính phủ ra lệnh gọi sĩ quan dự bị cấp tướng;
Bộ trưởng Bộ quốc phòng ra lệnh gọi quân nhân dự bị từ cấp tá trở xuống;
Theo mệnh lệnh của Bộ trưởng Bộ quốc phòng, Chủ tịch Uỷ ban hành chính khu tự trị, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ra lệnh gọi quân nhân dự bị từ cấp uý trở xuống;
Theo mệnh lệnh của Bộ trưởng Bộ quốc phòng, Chủ tịch Uỷ ban hành chính huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, khu phố ra lệnh gọi hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị.
3. Điều 34b: Trong thời bình, theo quyết định của Hội đồng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ quốc phòng tổ chức động viên thực tập cho các địa phương, cơ quan, đơn vị sản xuất và các tổ chức khác. Những người có nghĩa vụ quân sự có nhiệm vụ chấp hành nghiêm chỉnh các mệnh lệnh về động viên thực tập của Bộ trưởng Bộ quốc phòng và Chủ tịch Uỷ ban hành chính địa phương.
Luật này đã được Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà khoá thứ II, kỳ họp thứ 5, thông qua ngày 26 tháng 10 năm 1962.
Hồ Chí Minh
(Đã ký)
Download
The original file of this document is being updated. Please read the full text and check back later.
Relations map
No relations map for this document yet.
Translations
This document is available in the following languages: